Truyện ngắn, Truyện cực ngắn, Tạp văn, Thơ, Bạn văn, Nhạc, Tranh ảnh, VĂN HỌC NGHỆ THUẬT, Truyện dài

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

Truyện ngắn NƠI CHỈ CÓ HAI NGƯỜI


 








5. (Phần nầy có tên riêng: KHÔNG ĐỀ)





Cứ
nửa đêm Phương Hạ rời phòng ngủ nhẹ nhẹ bước nhanh sang phòng trang
điểm nơi có một cái bàn trên đó là chiếc máy vi tính màn hình tinh thể
lỏng. Nói theo cách nói anh chồng Phương Hạ, đây là cây bút nhiều năm
qua đã viết ra hàng trăm... tác phẩm văn học. Trong số đó có hơn bảy
mươi phần trăm in báo, lên trang mạng đến với bạn đọc. Tuy vậy với
Phương Hạ tác phẩm hay đảm đương sứ mạng cao quý đích thực của văn học
còn phía trước.
Hơn một tuần lễ qua, Phương Hạ trăn trở viết những trang văn thấm đẫm tình yêu thương...












a.
“Em mười bảy tuổi?”.
“Dạ!”.
“Em không “đi học” mà biết chữ?”.
“Dạ!”.
“Em là Thần đồng?”.
“Dạ không!”.
Đây là câu trả lời đầu tiên sau đâu trên mấy mươi lần Phương Hạ hỏi em mười bảy tuổi chỉ “Dạ!”.
Em Mười Bảy kể: "Đúng ra mỗi ngày ba dạy cho em một trang trong quyển sách của ông.”.
“Quyển sách gì?”.
“Dạ! Quyển sách màu hồ thuỷ!”.
“Của riêng ba em?”.
“Đúng vậy!”.
“Em kể tiếp đi!”.
Mười
Bảy sửa sửa mái tóc. Mái tóc dài quá vai đen mượt, phía trước bồng bềnh
như được uốn ở thẩm mỹ viện nhưng theo em “nó tự nhiên đó”, hồi cha
sinh mẹ đẻ ra “đã như vậy rồi”. Chính sự bồng bềnh của phần tóc nơi
tráng nhìn khuôn mặt của Mười Bảy càng thánh thiện. Phương Hạ tự cảm
nhận.
Mười Bảy kể, ba của em, người làng Nhân gọi ổng là “dị nhân”,
em không hiểu mấy nhưng so với người khác ông có lối sống khá độc đáo.
“Chị có ưng nghe không em kể!”. Mười Bảy hỏi.
“Ừ!”. Phương Hạ trả lời.
Từ
năm... đến lúc từ biệt mẹ và các chị em của em đi về với “ông bà”, ổng
không bao giờ ra khỏi nhà. Hằng ngày hết đọc sách – sách của ba em nhiều
lắm! – lại viết viết cái gì ấy, xong vào mùng ngủ, à quên dạy cho em
một trang sách nữa chứ!. Ngủ ban ngày hay ban đêm, quanh năm bốn mùa,
nắng nóng cũng như lạnh lẽo đều ngủ mùng. Khi chưa có điện ông dùng cây
quạt tay vây vẫy cho mát, khi có điện ông cũng vậy không cần máy quạt!.
Bạn của ông chỉ mấy người đến chơi với ông vào giờ nhất định. Giờ mà ông
gọi là giờ hoàng đạo và chỉ có bạn đến nhà chơi chứ chưa bao giờ ông
đến chơi nhà bạn!.
“Em không đến trường mà sao kiến thức của em rộng như thế?”. Phương Hạ hỏi.
“Dạ! Có gì đâu mà chị cho là rộng!”.
“Không rộng mà em biết chuyện Đông chuyện Tây, chuyện kim chuyện cổ, em còn biết tin học nữa!”.
“Từ ba em tất!”.
“Ba em biết tin học?”.
“Còn nhiều hơn nữa!”.
“Nhiều cái gì?”.
“Ông bảo sau công nghệ thông tin thế giới sẽ có một phát minh vĩ đại hơn!”.
“Ba em nói với em?”.
“Dạ”.
Phương
Hạ cực kỳ thích thú khi được tiếp xúc với Mười Bảy. Chỉ cần nửa đêm dậy
ngồi vào bàn vi tính, đầu óc Phương Hạ sáng suốt lạ sau đó viết mà
chẳng nghĩ ngợi...
Phương Hạ hỏi lại:
“Ba nói với em?”
“Không những nói mà ba còn vẽ ra trên giấy!”.
“Vẽ?”.
Phương
Hạ nhìn chằm chằm vào đôi mắt Mười Bảy, đôi mắt dịu hiền không có một
chút gì ưu tư phiền não, đôi mắt ấy Phương Hạ chắc không dối trá điều gì
bao giờ!. Phương Hạ nói thầm thầm trong bụng.
“Ba vẽ như thế này...”.
Mười Bảy làm y như đang cầm cây bút chì, vẽ vẽ mấy đường vòng tròn giao nhau, xong chấm hai chấm.
Mười Bảy nói:
“Đây là thiết bị đo tính trung thực của con người!”.
“Đo tính trung thực!”. Phương Hạ lặp lại lời của Mười Bảy trong sự hưng phấn tột độ.
“Đúng!
đúng rồi!”. Phương Hạ reo lên. Đoạn im thiêm thiếp lại ngay vì bây giờ
mới hai giờ sáng không khéo anh chồng và cả đứa con trai Sun Sun bị đánh
thức dậy sẽ “rầy rà” cho mà xem. Phương Hạ điềm tĩnh hỏi:
“Ba em nói gì thêm?”.
“Dạ ba nói em sẽ là người “giúp” một người sáng tạo ra thiết bị đo tính trung thực.”.
“Có chuyện như vậy thật!”.
“Ủa! Chị không tin em à?”.
“Chị... chị... Tin!”.
Phải uốn lưỡi đâu hơn bảy lần Phương Hạ mới nói được chữ tin.


b.
Chiếc
máy đo tính trung thực mà ra đời thế giới sẽ như thế nào?. Có tiến bộ
hơn?. Nửa đêm hôm nay khi ngồi vào bàn vi tính gõ những con chữ tiếp
theo của truyện ngắn nầy Phương Hạ đặt ra câu nghi vấn như thế.
Đang loay hoay chỉnh lại khung trang, cỡ chữ định viết... Mười Bảy xuất hiện.
“Chào chị mà không phải gọi là văn sĩ chứ!”. Mười Bảy nói vui và hơi làm điệu một chút khiến Phương Hạ vui lây.
“Em đến đúng hẹn”.
“Có chậm một phần tư giây đấy chị!”.
“Ừ!”.
“Chị có biết không đúng ra em kể chuyện chiếc máy đo tính trung thực cho ông gì ở trên phố Y.Z không phải cho chị đâu?”.
“Mà sao em không kể?”.
“Tại ông ấy và một số người như ông ấy không bao giờ trung thực!”.
“Em biết?”.
“Người
được trao nhiệm vụ tìm người chế tạo ra một thiết bị cực kỳ quan trọng
cho sinh động vật ở thế gian nầy mà không biết mới là chuyện lạ!”. Mười
Bảy cười cười... Nụ cười cũng hiền khô.
“Bao giờ em nói rõ?”.
“Đêm nay!”.
“Đêm nay?. Với ai?”.
“Với văn sĩ Phương Hạ!”.
Phương
Hạ không tin vào thính giác của chính mình. Cô lắc lắc đầu đứng dậy đi
ra phòng bếp mở tủ lạnh lấy chai nước suối bước tới lavabo rửa mặt. Đầu
óc Phương Hạ tỉnh ra và quay trở lại bàn viết.
Bây giờ không phải
chỉ có mỗi Mười Bảy, Phương Hạ đang tiếp xúc với n Mười Bảy và n những
sinh linh khác. Họ là những con người của nhiều dân tộc, nhiều sắc tộc,
nhiều chính kiến, đến từ nơi văn minh có, lạc hậu có, đang phát triển
có, giống nhau ở chỗ lúc sống dù khó khăn đến mấy họ luôn biết vươn lên
trở thành người trung thực trong cộng đồng người trung thực. Trung thực
là đức tính vốn có của con người từ khai thiên lập địa. Nói dễ làm khó!.
Cái điều gì cản trở?. Quyền lợi! Nghĩa vụ! Lương tâm!. Nói sao cũng có
lý. Trước một sự việc ai không muốn trung thực nhưng...
Phương Hạ suy nghĩ miên man. Mười Bảy nhắc:
“Văn sĩ sợ rồi?”.
“Sợ điều gì?”.
“Sợ tính trung thực!”.
Phương
Hạ rùng mình!. Chính câu nói ấy đã đọc được một phần tỷ tỷ... ý nghĩ
của Phương Hạ. Vì điều “sợ ấy” mới manh nha trong một nửa nơ-ron thần
kinh não của Phương Hạ chứ đâu hình thành trọn vẹn thế mà Mười Bảy đã
biết!.
Phương Hạ trả lời:
“Đúng như vậy!”.
“Thế thì thôi!”. Câu nầy không phải của Mười Bảy nói mà của nhân vật xin được gọi là Fi.
Fi
trông hao hao người Việt. Đầu tròn tóc cắt ngắn theo phong cách thời
thượng ba phân, trán hói móng ngựa, da bóng loáng, môi đẹp, miệng đẹp,
đôi mắt sáng có hồn phách càng nhìn lâu càng đáng yêu!. Bên trong chiếc
đầu ấy Phương Hạ tin chắc chứa đựng một trăm phần trăm tính trung thực.
Mười Bảy có lần nói những ai tiếp xúc với Mười Bảy đôi ba lần sau đó
nhất định sẽ được “nhiễm” một lượng trung thực vào người, không khi nào
không có một lực nào trút bỏ ra được. Nếu như vậy Fi người đã tiếp xúc
với Mười Bảy là người trung thực.
Phương Hạ đoán già đoán non như thế.


Kết:
Cây
xấu hổ có nơi gọi là mắc cỡ, thân hình xấu xí đầy gai nhọn, hồi nhỏ
Phương Hạ rất thích lấy tay chạm nhẹ vào bất kỳ nơi nào của cây, lá sẽ
từ từ xếp lại rất thú vị nhưng mẹ thì nhắc con nhớ cẩn thận gai nó xóc
vào tay nhức lắm!. Cái thích thứ hai ngồi yên nhìn bông xấu hổ. Bông hoa
tròn tròn tim tím rực rỡ!. Không biết nó trỗ bông làm chi nhỉ?. Nhiều
lần Phương Hạ hỏi chị Phương Xuân, chị ậm ự: “Thì em hỏi cây xấu hổ
thử?”. Và rồi Phương Hạ tìm thấy câu trả lời.
Ngày xưa cây xấu hổ
cũng “bảnh cây” lắm. Ngày một lớn, “anh” xấu hổ quên bẵng “tính trung
thực” vốn có, y như câu “Nhân chi sơ tính bản thiện” mà ông ngoại Phương
Hạ sinh thời thường nói với ông bạn hàng xóm khi hai ông ngồi lại với
nhau cùng nhâm nhi ly trà chén rượu... Xấu hổ sống cuộc sống lọc lừa và
dối trá, hễ cái gì điều gì có lợi cho bản thân, gia đình, họ nhà “mình”
không ngần ngại dùng mọi mưu mẹo “dối trá” để chiếm hữu. Trên người
“anh” lần lần sinh ra gai sắc nhọn, chỉ còn bông hoa có màu sắc đẹp.
Bông hoa theo xấu hổ kể là chút gì đó còn lại để gắng gượng sống với
“đời!”.
Quanh bên xấu hổ nào mai nào cúc... phơi phới với gió Xuân,
nắng Hạ, được mọi người chăm chút vun trồng, khi ra hoa được chưng diện
nơi sang trọng, uy nghi hay chí ít cũng đặt để nơi thoáng đãng làm tăng
thêm vẻ đẹp của cuộc đời đáng yêu biết chừng nào!.
Xấu hổ sống lặng lẽ, thui thủi... Làm sao bây giờ?.
Đêm hồi hôm Phương Hạ kể chuyện cây xấu hổ cho Fi, Mười Bảy và nhiều “người” khác cùng nghe.
Nghe xong Mười Bảy không nói gì. Fi làm thinh. Nhân vật Xm lên tiếng:
“Cô Mười Bảy, chú Fi ơi bó tay thôi. Trừ cô văn sĩ Phương Hạ...”.
Phương Hạ gật mình:
“Cháu nói sao?”.
“Dạ!
Cháu nói nếu ai cũng như cô sẵn lòng yêu thương mọi người, chỉ có tình
yêu thương chân thật, thật sự là chiếc máy đo tính trung thực tốt nhất”.

Fi nói chen vào:
“Máy móc chỉ hỗ trợ thôi!.”
Mười Bảy khẳng định:
“Dù
em có giúp chị chế tạo ra cái thiết bị đo tính trung thực thật hiện đại
mà người xử dụng nó thiếu trung thực sẽ là một hiểm họa. Bởi khi ấy
sinh động vật sẽ "ngây ngô" tin một cách mù quán mê muội vào “sự thật”
của cái máy vô tri vô giác đó qua bàn tay khối óc của kẻ "cơ hội”, kẻ
“vô lương tâm”, "vô cảm"... đang tâm “phù phép”... “Sai một ly đi một
dặm” ông cha ta đã răn dạy rồi!. “Hãy kết nối tình yêu thương lại với
nhau...” Phương Hạ nghe rõ mồn một, lời tâm huyết của bao thế hệ trước
muốn gởi gắm lại cho thế hệ sau: “Mọi sự xây dựng trên nền móng thiếu
trung thực chóng chầy đều không tốt lành.”
Anh chồng Phương Hạ nãy
giờ bắc ghế ngồi đàng sau Phương Hạ. Anh chồng nhẹ nhàng quàng tay ôm
vợ. Phương Hạ chỉ hơi gật mình một chút vì biết anh chồng đang ở bên
mình. Bạn biết tại sao không?.
Phương Hạ gõ câu: “Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi.” vào truyện ngắn đang viết. Xong quay lại trìu mến nhìn chồng:
"Em yêu anh!".
Căn phòng của vợ chồng Phương Hạ tràn đầy hạnh phúc.                               


                                                                               

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Ảnh Đẹp




Nguồn ảnh Đẹp






Nguồn ảnh Đẹp


Đẹp +







Truyện ngắn HÒA VĂN: NƠI CHỈ CÓ HAI NGƯỜI







1.
Chiếc
xe lúc đầu mới thấy tưởng con dế, nhìn kỹ chặp lâu nó lại giống con bò
cạp mà không phải hình như nó là con rắn nằm khoanh tròn giấu đi cái đầu
chỉ có cái đuôi và phần thân.


Phương
Hạ lắc lắc đầu mấy lượt rồi nhắm mắt mở mắt mấy lần để định thần. Đúng
rồi phía trong xe có một người, coi bộ anh thuộc tạng người sành điệu
chiếc kiếng màu đính trên sống mũi cao và thẳng, chiếm đâu một phần năm
khuôn mặt. Dù vậy Phương Hạ chắc anh nhất định đẹp trai.


Bữa gặp đầu tiên chỉ có vậy mà sao về tới nhà lòng lao lư lạ. Phương Hạ
đem chuyện nầy kể với chị gái (là chị nhưng hai chị em cùng tuổi, nghe
mẹ kể chị lọt lòng mẹ sau Phương Hạ năm hay bảy phút gì đó) chị mách với
mẹ “Bé Phương Hạ đã biết mơ rồi mẹ ơi!”. Phương Hạ vặn hỏi “Mơ là không
thiệt hả chị!”. “Đôi khi như vậy và đôi khi lại khác, sau mơ sẽ thành
sự thật”. “Chị nói em không hiểu?”. “Mà thôi mình mới mười sáu tuổi!”.
Chị nói như thế rồi giục cùng đi học kẻo trễ.
Ở trường cấp 2 - 3 Gò
Nổi nầy hơn tám trăm học sinh đều biết cặp chị em song sinh Phương Xuân –
Phương Hạ, bên cạnh giống nhau như hai giọt nước, cả hai cùng học rất
giỏi, nhất là môn văn học. Hôm trường tổ chức lễ kỷ niệm ngày thành lập
trường phần văn nghệ Phương Hạ đọc một bài thơ mới sáng tác còn Phương
Xuân hát bài của nhạc sĩ Từ Huy, tác giả người cùng quê nổi tiếng ở Sài
Gòn. Nếu như bài thơ của Phương Hạ mơ về ngay mai thì bài hát lại nhớ về
tuổi thơ!. Hai thế hệ có cách nhìn nhận khác nhau nhưng đồng cảm.


 

*



“Hai
đứa lo mà học hành”. Mẹ nhắc nhở và kể ngày xưa ông nội coi trọng việc
học lắm tiếc là nhà nghèo với lại hồi ấy ở đây việc đi học không đơn
giản, bậc tiểu học thì học tại quê còn lên trung học phải cơm đùm cơm
gói xuống tới phố Hội mới có trường lớp nên chi ít ai theo học đến cùng.
Ba con học hết đệ nhất cấp là giỏi lắm!. Câu chuyện nầy hai chị em nghe
không biết bao nhiêu lần. Mỗi lần nghe mẹ nói như thế hai chị em thấy
như được bồi bổ thêm nghị lực. Và cả hai ngày càng học giỏi hơn.
Cuối
năm 12 tốt nghiệp xong hai chị em ra Đà Nẵng thi Đại học. Việc Phương
Xuân – Phương Hạ thi đỗ mấy trường cùng một năm là chuyện ở đâu trong
xóm trong làng mọi người cũng nhắc đến và khen ngợi hết lời. Họ nói học
như rứa ai mà không cho học!.
Phương Hạ đỗ Ngoại thương thế mà lại
chọn học khoa Nhân văn, khiến nhiều người ngỡ ngàng. Phương Hạ nói Ngoại
thương con không học có người khác học và làm tốt, còn khoa con chọn
nếu con không học uổng lắm!.




*



Thời gian không dừng lại bao
giờ. Mới đó mà đã hai mươi mấy năm kể từ ngày Phương Hạ ra trường Đại
học hạng giỏi với luận văn đề cập đến văn học sử giai đoạn 54 - 75 ở
miền Nam. Bằng sự sâu sắc về cách nhìn, cách đánh giá khách quan và
trung thực, luận văn của Phương Hạ không chỉ xác định sự thật mà còn
bước đầu soi rọi hàng loạt tác phẩm mang đậm tính nhân văn và nhân bản
vốn là gia tài vô giá của đất nước có bề dày văn hiến hàng ngàn năm...
Anh
con trai có lần Phương Hạ kể cho chị nghe năm nào đột nhiên xuất hiện.
Chiếc xe bây giờ không là con dế, con bò cạp hay con rắn nằm khoanh
tròn, nó bóng loáng mang nhản hiệu Renault...
Anh đang là ba của đứa
con trai kháu khỉnh năm tuổi có đôi mắt y hệt Phương Hạ, tròn sáng và
đặc biệt có sức hút kỳ lạ hễ ai có dịp nhìn thấy nhất định phải dành cho
chủ nhân nó sự yêu mến!. Còn khuôn mặt và sống mũi như được sao chép
nguyên bản của anh. Chuyện anh và Phương Hạ gặp nhau đến với nhau giống
nguyên xi những giấc mơ hồi còn cắp sách đến trường, có khác chăng giấc
mơ có nhiều lúc thăng trầm lắm!. Ví dụ hai người quen nhau đến gần hai
năm, khi về nhà thưa với mẹ, mẹ bảo “Cái chi cũng được nhưng cái chuyện
người con trai khuyết tật là căng lắm!”. Mẹ nói con yêu thương nói vậy,
mẹ hiểu và thương con mẹ đồng ý nhưng còn xóm giềng, tộc họ mà nhất cậu
Tân con chắc gì ổng chịu!. Sau giấc mơ Phương Hạ khóc nức nở. Rồi viết
email kể với chị Phương Xuân, chị an ủi “Chỉ là mơ em lo xa quá!”. Hoặc
có một lần thấy anh bỏ rơi Phương Hạ. Sau giấc ngủ dậy cũng khóc, khóc
ghê lắm. Mấy đứa bạn cùng cơ quan lại phân trần “Chỉ là mơ thôi!”.
Gần
đây nhất Phương Hạ cùng anh lạc vào thành phố lạ nơi chỉ có hai người!.
Sau đâu mấy chục năm sinh sống ở đó Phương Hạ có mái ấm thật hạnh phúc
nhưng lòng chẳng an lành chút nào, lúc nào cũng nghe văng vẳng bên tai
tiếng gọi của mọi người thân quen. Họ nói hãy trở lại cuộc sống thường
ngày dù nơi đang sống còn quá nhiều bất cập. Gia đình là tế bào của xã
hội, mọi sự tốt xấu của xã hội có một phần do từng con người từng gia
đình làm nên và ngược lại xã hội với tác động chủ và khách quan bản thân
xã hội cũng sinh ra nhiều điều không như mong ước.




*



Phương
Hạ kể hiện giờ hơi hẫng hụt. Nhiều truyện, thơ của Phương Hạ viết chẳng
có ý nghĩa gì! Đa số lưu hành trong giới văn chương còn xã hội ít ai
quan tâm hoặc có thì hời hợt. Phương Hạ nói có lần văn sĩ Nguyễn Huy
Thiệp thẳng thắng “Chỉ trích thói rẻ rúng và đốn mạt của “bọn làm thơ””
và không ngần ngại “Tôi không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ
nhưng trên thực tế cái danh “nhà thơ” là một thứ nhìn chung là nhăng
nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó; “nhà thơ” đồng nghĩa
với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn “lưu manh”
nữa…”. Theo Nguyễn Huy Thiệp thời Pháp thuộc ngay như văn sĩ nổi tiếng
Vũ Trọng Phụng còn bị xếp vào hạng “Vô nghề nghiệp”!.
Mới đây đọc
một truyện ngắn của thi sĩ lão thành người cùng quê đang ở Sài Gòn, đăng
trên tạp chí văn nghệ X, chuyện kể có một thi sĩ nọ in thơ sau khi biếu
tặng, số còn tồn lại không biết làm gì đã đưa hàng trăm quyển cho bà vợ
tặng bạn hàng khi mua hàng tạp hóa... của bà, làm thế mà làm được?!.
Sau khi đọc truyện Phương Hạ thêm đau lòng hơn! Buồn bã mấy ngày và định quẳng bút!.



*



Chồng
Phương Hạ biết chuyện không đồng ý. Anh nói em cứ sống và viết hết
lòng. Mảnh đất em đang cày xới gieo trồng từng con chữ có anh cùng chia
sẻ! Em lo gì?.




2. Suốt
hai năm ròng rã Phương Hạ cố gắng làm việc ở NXB. Y, nói là NXB cho có
"tiếng tăm" chứ thật ra nơi đây chỉ làm một công việc vận động người
“sáng tác” xin giấy phép để in sách!. Hồi chân ướt chân ráo đến đây với
kiến thức được trang bị ở trường lớp và bầu máu nóng ở trái tim yêu văn
học Phương Hạ tưởng chừng sẽ đem tài năng ra giúp đỡ các văn nhân thi sĩ
có điều kiện thuận lợi công bố tác phẩm mà họ lao tâm khổ tứ mới có
được. Đâu nửa năm tiếp xúc với công việc gọi là biên tập viên, Phương Hạ
nhận ra điều mà trước đó chỉ nghe phong phanh. Rất may cho cô nhân viên
mới cao tay ấn nên xếp không dám thực hiện thủ tục "1 trong 2 T"(*).

nói với chồng “Chẳng lẽ em về nhà nuôi lợn, nuôi gà!”. Anh chồng quá
biết chuyện nên không hỏi lý do, anh chỉ động viên “Đó là chuyện của
thiên hạ còn mình không có thì thôi em suy nghĩ chi thêm mệt!”.
Thành
phố ngày càng đông người theo đúng quy luật phát triển của xã hội nhưng
cũng chính sự đông đảo một cách không theo đúng quy hoạch giống như
nước nơi cao cứ đương nhiên đổ xuống nơi thấp, không ai có thể ngăn chặn
được do vậy biết bao nhiêu bất cập xảy ra khiến nhiều người đau đầu.
Nghe nói sắp tới có giải pháp giản các khu kinh tế, khu công nghiệp ra
các vùng ven ngoại thành để kéo mật độ dân cư trong thành phố xuống mức
tỉ lệ cho phép. Cách đây hai ngày Phương Hạ nhận được một tập bản thảo
do xếp trao tận tay. Xếp bảo “Tập thơ khá lắm đấy! Cô xem biên tập nhanh
để cho in!”. Như mọi khi cô nhẹ nhàng “Dạ!” rồi kéo thọa bàn cất tạm
vào đấy. Hôm nay sực nhớ vội lấy ra đọc. Tác giả tuổi lục tuần nhưng
trông tấm ảnh chụp gởi kèm tập bản thảo nom trẻ như mới năm mươi và coi
bộ còn lắm phong độ. Cô cố gắng nhớ hình như đã gặp người nầy một lần ở
Hội nghị tổng kết văn học tỉnh N. và một lần tại buổi giới thiệu sách
của tác giả T.M thì phải, ông tính tình xởi lởi dễ bắt chuyện, chỉ cần
hỏi đôi ba câu xã giao, ông đã kể tất tần tật mọi chuyện liên quan đến
thơ ca (hò vè) của ông. Đúng như một văn sĩ có nhận xét “Cái tôi văn
nghệ của một số người ở nước mình to và sung lắm!”.
Ngược với những
gì ông giới thiệu, thơ ông càng đọc càng không biết ông muốn nói chuyện
gì!. Thời buổi khủng hoảng kinh tế toàn cầu, công ăn việc làm gặp khó
khăn, nhưng thơ ca của ông thì khá thuận lợi. Toàn mây và gió. Tập bản
thảo có ba phần: phần một kể chuyện quá khứ, phần hai mơ ước tương lai,
hiện tại viết rời rạt. Gộp chung lại chẳng ăn nhập gì, đó là chưa kể quá
hơn hai phần ba bài muốn in phải biên tập ít nhất năm mươi phần trăm số
câu, chữ trở lên.
Đường đến nơi làm việc thường kẹt xe, nó xảy ra
như người nghiện rượu chiều chiều lại nhớ chiều chiều không hề sót bữa
nào. Đúng ra Phương Hạ đến vào lúc 7 giờ 30 thế mà bây giờ đã hơn 8 giờ
rồi vẫn còn cách cơ quan non hai cây số, điện thoại reo tới lần thứ ba
rồi mà xe cộ, người chật như nem không thế lấy điện thoại từ trong giỏ
xách ra để nghe xem có gì cần kíp không. Tới nơi trông xếp mặt đỏ gay và
miệng nói câu gì đó làu nhàu cô chắc mẩm mấy cuộc gọi nhỡ là của xếp.
Tuy vậy thản nhiên giả bộ không hay biết, tính bước vội qua mặt xếp kèm
theo nụ cười buổi sáng xong đi thẳng vào văn phòng, liền bị xếp gọi lại
“Cô biên tập tới đâu rồi!”. Mỗi lần xếp mà hỏi thắt ngang như thế ổng
chắc giận lắm! Nghĩ trong bụng rồi không trả lời mà hỏi lại “Theo anh
tới đâu rồi?”. Chính câu hỏi đã cứu cô, thay vì gắt gỏng tiếp xếp nở nụ
cười tròn vo trên môi mỏng dính, nói “Ừ! Em cố cho nhanh, xếp (thì ra
ông in thơ trước đây xếp của con xếp) điện thoại mấy lần hối in cho kịp
phát hành vào hôm ông tổ chức mừng thọ lục tuần vào cuối tháng bảy
tới.”. “Chắc cứ để thế mà in!. Em biên tập đến nhức cả cái đầu mà chẳng
ra hồn!”. “Thì tuỳ em, miễn có sách đúng hẹn cho ổng!”.
Ngồi vào ghế
ngả người ra phía sau, vươn hai tay lên cao Phương Hạ chợt nhìn thấy cái
Bằng khen xếp về thành tích năm trước vượt chỉ tiêu cấp giấy phép in
sách, định hỏi xếp nhưng thôi chắc nay mai xếp sẽ làm tiệc chiêu đãi
công bố lo gì!.
Phương Hạ nhớ câu động viên của chồng cách đây hơn
một tuần "Em cứ sống và viết hết lòng. Mảnh đất em đang cày xới gieo
trồng từng con chữ có anh cùng chia sẻ!. Em lo gì?.”. Anh chồng là một
doanh nhân văn hoá của văn sĩ Lê Lựu, nên rất thông cảm với vợ nhiều vấn
đề. Hôm đó cô trả lời “Em quý và yêu anh chính vì điều anh vừa nói,
nhưng điều em quan tâm không phải ở thực trạng mà là căn nguyên.”. Anh
chồng ôm vợ vào lòng âu yếm tặng nụ hôn xong mới nói “Không nên máy móc
em ạ!. Mỗi người chúng ta nên làm tròn nhiệm vụ được xã hội phân công
còn... “. Anh chồng định nói thật một điều gì nhưng sợ vợ lại buồn nên
ngập ngừng rồi chuyển sang chuyện của anh.



*



Anh kể hồi bảy chín
cả nước sôi sục khí thế chống quân khựa, ở tuổi hai mươi đang ngồi trên
ghế Đại học kinh tế... anh đã xung phong làm người lính ở tuyến đầu biên
giới phía Bắc, cuộc chiến nào cũng không tránh khỏi mất mát hy sinh
song theo anh những ngày tháng năm ấy với anh là một bài học lớn về cuộc
đời. Một bàn chân trái của anh đã gởi lại trên chiến trường, anh sẵn
sàng hy sinh một phần hay cả thân thể vì đây là bổn phận phải làm, anh
tâm sự cả nước lúc ấy mà dụ dựa chắc đất nước không còn gì!”. Trở lại
đời thường gặp Phương Hạ anh như được tiếp thêm sức sống mới nghị lực
mới để đến ngày hôm nay anh có mái ấm hạnh phúc vợ đẹp con xinh và có
một Công ty điện tử đang ăn nên làm ra nhất nhì ở thành phố Sài Gòn”.
Phương Hạ vùi đầu vào ngực chồng và cảm thấy yên lành lạ!.
"17 giờ rồi! Em phải đi đón cu Sun!. Anh ở nhà, tối nay mình đi ăn cơm ở quán nghe!".
Ngoài sân bóng nắng chiều gom lại chỉ còn đâu vài mét vuông. Không khí dịu mát...




3.


Sài Gòn nhiều sinh hoạt kéo dài thâu đêm, khi mới vào sống ở đây Phương
Hạ nghĩ trong bụng không biết người ta đi đâu làm gì mà đông thế. Những
con đường rộng thênh thang vậy mà lúc nào cũng ướm kẹt xe. Lại quán xá
nữa ba hàng dảy bảy hàng dài không có gì không có, đến như cần một nồi
nước lá xông khi cảm lạnh theo cách chữa bệnh dân gian, có ngay nào là
lá tre, cây sả, rễ tranh, cỏ gấu, râu bắp...
Chồng của Phương Hạ quê
gốc Đà Nẵng vào lập nghiệp năm 82, tức là một năm sau ngày phục viên,
bạn bè đa số học xong ra trường, anh chàng cựu sinh viên giờ “khuyết
tật” chưa biết làm gì cho khuây khoả gặp dịp ông bác mới mở một công ty
điện máy cần người quản lý, thế là anh bỏ qua dự định trở về trường để
học tiếp. Bác anh nói “Bằng cấp là quan trọng nhưng thực tế rất cần!”.
Đúng vậy chỉ hơn ba năm học buôn học bán ở thương trường lớn nhất nước
nầy anh trưởng thành nhanh chóng, không những vừa học tín chỉ xong bậc
đại học mà anh còn mở riêng cho mình một công ty chuyên kinh doanh các
loại hàng điện tử. Một lần về quê anh gặp Phương Hạ cùng đi trên chuyến
tàu hoả, cả hai như hẹn nhau bắt chuyện nhanh rồi quen và đến với
nhau... Câu chuyện Phương Hạ mơ ngày xưa chồng cô là người "khuyết tật"
như sự dự báo nên khi biết anh mất một bàn chân ở biên giới phía Bắc năm
bảy chín, cô không ngần ngại mà còn tự hào về người chồng tương lai.
“Ghé vào quán nầy anh hé!”. Phương Hạ vừa nói vừa chỉ tay. Anh chồng gật
đầu và cho xe dừng lại.
Phía bên trong quán đã có cô em chồng cùng
người bạn trai, thấy Phương Hạ đến cả hai vui vẻ ra tận xe bế cu Sun.
“Hôm nay các em bày chuyện gì thế nầy?”. “Dạ! Tất cả do chị bày biện
chúng em chỉ phụ giúp thôi!”. Lát sau có thêm mấy nhân viên công ty và
hai người bạn của vợ chồng Phương Hạ đến. Phương Hạ trìu mến nhìn chồng
nói “Nhân kỷ niệm mười năm ngày cưới của mình em muốn tặng anh, gia đình
và bạn hữu sự bất ngờ nầy. Thôi xin mời!.”.
Bữa tiệc tuy đơn giản
nhưng ấm cúng. Cu Sun được nhắc tới nhiều nhất. Mà đúng thôi vì đây là
quả của cây hạnh phúc được vợ chồng Phương Hạ gieo trồng chăm bón tỉ mỉ
và cu Sun chính là sợi dây kết nối thêm bao yêu thương vốn đã có sẵn
trong tâm can của đôi uyên ương nầy.
Anh chồng nói có ý định sẽ dàn
xếp thời gian về quê, thăm hai bên gia đình, thăm lại ngôi trường Phương
Hạ học hồi bậc tiểu học tặng năm chục dàn máy vi tính để trường xây
dựng phòng công nghệ dành cho học sinh lớp 4 và lớp 5 học tin học.
Phương Hạ tỏ vẻ vui lắm. Cô nói “Em cũng sẽ thăm lại trường cấp 2 – 3
nữa!”.





*



Tập truyện ngắn (tạm gọi là XXV) của Phương Hạ gồm hai
mươi lăm truyện, cách đây hai tháng cô chuyển cho xếp để in, Phương Hạ
nghĩ công tác ở đây nên việc in sách chắc không gì trở ngại, thế mà...
Đâu
vài ngày sau đó xếp trao lại cho Phương Hạ tập bản thảo và gợi ý “Theo
anh em chưa nên in tập nầy!”. Cô vặn hỏi nhiều lần tại sao như vậy chỉ
nhận được sự yên lặng. Từng biên tập nhiều truyện và thơ cho nhiều tác
giả, mà nói biên tập chứ biên tập gì đâu, những đề tài không mới đã đành
nó còn lãng tránh thực tế nên nhiều khi vô thưởng vô phạt. Tác phẩm
nhàn nhạt dễ dàng ra đời còn tác phẩm có chiều sâu, bề rộng mang vóc
dáng một chút, chờ...
Tập thơ của tác giả Đa Ni in đẹp giấy tốt, hình
bìa vẽ chân dung cô gái tuổi đôi mươi đầy quyến rũ, hình như cô gái nửa
e thẹn nửa mạnh bạo dang đôi tay thiên thần ra đón nhận niềm vui gì
đấy, tác giả của bức tranh lột tả nửa chừng, chắc có dụng ý để tuỳ từng
người xem tự trả lời. Hôm ông thi sĩ gởi sách lưu chiếu cho NXB, Phương
Hạ khen, ông vui lắm và mời ngày... tháng... năm... đến nhà hàng Đá Cuội
dự lễ mừng thọ lục tuần của ông đồng thời nhân dịp nầy ông sẽ phát hành
tập thơ. Phương Hạ đọc bài giới thiệu có đoạn đưa ông lên tới mây xanh,
ông hiểu ý cười rất tươi và phân trần “Chú nói viết sơ sơ thôi nhưng
anh xếp của cô tâng lên quá! Chắc cho đáng đồng tiền bát gạo!”. Ông khoe
in giấy mời rồi mà chưa kịp viết danh tính địa chỉ từng người nên chưa
gởi được. Phương Hạ cầm giấy mời phải nói là xịn, xịn nhất trong số
giấy mời ở đây thường nhận. Ông nói thằng con nó lo đó!.




4.

Trở
về quê lần nầy Phương Hạ vui lắm. Chị Phương Xuân hay tin đã chuẩn bị
khá đầy đủ những tiết mục mà hồi còn cắp sách đi học hai chị em cùng
thích.
Đà Nẵng so với cách đây hai mươi mấy năm thay đổi nhiều, con
đường Bạch Đằng nằm dọc sông Hàn thơ mộng như rộng hơn dài hơn và đối
diện phía bên kia sông có thêm một con đường sát bờ sông cũng đẹp thu
hút khá nhiều khách nhàn du. Nghe tiếng hôm nay lần đầu tận mắt nhìn cây
cầu Sông Hàn mang dáng dấp hiện đại lòng Phương Hạ thanh thản lạ.
Sun
Sun con trai của Phương Hạ đi với mẹ và dì Xuân cùng bé Tin Tin (con
gái dì Xuân) nhỏ hơn Sun Sun hai tuổi nhưng lanh lợi và rất rành đường
đi. Tin Tin nói: “Dì biết không từ đây đến chùa Linh Ứng không còn xa
lắm đâu!”.


Đó là chuyện cách đây hai ngày, hôm ấy cả hai gia đình
Phương Xuân - Phương Hạ vãn cảnh chùa Linh Ứng, ngôi chùa mới xây dựng
trên đỉnh núi Sơn Trà, khung cảnh thoáng đãng có tượng Đức Quan Thế Âm
Bồ Tát cao lớn nhất nước uy nghi mà hiền hậu. Trông khuôn mặt vị Bồ Tát
thật thanh thoát, du khách càng ngắm nhìn tâm hồn càng đón nhận thêm
biết bao tình từ bi từ hỷ xả. Cảnh chùa yên bình khiến lòng người an
lạc, từ đây mà phóng tầm nhìn ra xa xa biển xanh mênh mông và trời cao
trong vắt tựa bức tranh thuỷ mặc sóng sánh lộng lẫy vô cùng. Rất tiếc mẹ
của Phương Hạ bị bệnh cảm nên không đi được nhưng như bà nói: “Rất vui
khi các con đi lễ Phật!”. Bởi với bà một gia đình chỉ thật sự hạnh phúc
khi gia đình có Đạo. Từng trải qua bao gian khó nhọc nhằn cuộc đời,
người mẹ trải nghiệm hết sức thấu đáo mọi sự đời, theo bà những điều răn
dạy của các vị Giáo chủ tôn giáo không phải để đạt mục đích khi chết mà
chính là để thực hiện khi sống!. Chân lý qua hàng ngàn năm tồn tại phát
triển nói lên điều ấy.


Sáng nay đi thăm trường Tiểu học ở quê
trao tặng năm mươi dàn máy vi tính vợ chồng Phương Hạ mới cảm nhận thêm
một điều, quê mình còn quá nhiều khó khăn. Chỉ nói lĩnh vực giáo dục
cũng lắm việc cần làm ngay. Thầy Duy, Hiệu trưởng nhà trường cho biết
thời tiết nắng nóng như thế nầy mà trường chưa có nguồn nước tinh khiết
tại chỗ để học sinh uống, đa phần các em phải mang theo chai nước sôi để
nguội từ nhà đến trường, rất là tội!. Phương Hạ nói với chồng sau đợt
nầy anh làm sao cố gắng vận động bạn bè trong giới doanh nhân của anh
giảm đi một số cuộc hội hè đình đám chắc chắn sẽ đủ tiền giúp các em một
công trình nước lọc theo công nghệ Na no đúng tiêu chuẩn vệ sinh và an
toàn. Anh chồng Phương Hạ gật gật đầu đồng ý.


Đứng dưới gốc phượng
vĩ đang trỗ bông đỏ rực Phương Hạ bất giác nhớ đến kỷ niệm thời cùng
tuổi với các em bây giờ. Kỷ niệm như cánh phượng kia tươi tắn màu yêu
thương. So với các em bây giờ ngày xưa lứa học trò của Phương Hạ lơ ngơ
nhiều, được cái rất thật lòng yêu thầy mến cô và quý tình bạn. Những
Tưởng, Vân, Hà,... ngày nào, giờ mỗi đứa một phương trời một hoàn cảnh
điều kiện sống khác nhau, tuy vậy Phương Hạ tin trong lòng mỗi bạn nhất
định còn đọng lại mãi mãi những tình thân ái...


Gặp Vân hiện là cô
giáo dạy Toán trường Trung học Phổ thông Gò Nổi, Phương Hạ yên lòng vì
Vân không chạy theo cơ chế “thời thượng”, Vân biết đem kiến thức và lòng
yêu nghề dạy dỗ các em học sinh nên người. Vân nói có người cho Vân lập
dị mặc kệ, chồng Vân cũng là giáo viên cùng trường là người chia sẻ với
Vân mọi công việc làm, thế là được rồi!. Và được hơn hầu như không có
bậc cha mẹ nào và nhất là em học sinh nào không kính trọng cô giáo Vân
thật sự. Khi biết Phương Hạ đang là văn sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn, cô giáo
Vân khâm phục lắm!. Cô nói: “Mình đã đọc nhiều tác phẩm của Phương Hạ.
Nếu được hôm nào mình sẽ tổ chức buổi gặp gỡ giữa Phương Hạ với học sinh
lớp mình chủ nhiệm.”. Phương Hạ không nhận lời ngay mà đề nghị nếu Vân
dàn xếp được điện thoại Phương Hạ dành thời gian tham gia.




*



Chỉ
còn có hơn một tuần lễ nữa nghỉ hè rồi. Không khí trường lớp nao nao
lòng!. Trên năm mươi em học sinh lớp mười hai tham dự buổi “trò chuyện
văn chương” nói như lời đề dẫn của thầy Hiệu trưởng Siêng. Các em ngồi
yên lặng lắng nghe Phương Hạ tâm sự, chủ đề Phương Hạ gợi lên và đề nghị
các em cùng chia sẻ không to tát gì nó rất gần gũi, là việc cần làm, có
điều nếu ai không quan tâm chẳng hay thấy.
Theo Phương Hạ mỗi cuộc
sống đều bắt đầu trong niềm yêu thương. Ví dụ chính buổi gặp gỡ nầy cũng
bắt đầu từ niềm yêu thương giữa một cựu học sinh của trường với các em
hiện đang học. Có khác chăng cung bậc của niềm yêu thương ấy bao nhiêu?.
Để làm gì?. Có vụ lợi?. Quan niệm học để làm gì hiện nay không khác so
với trước đây chỉ có nó được nâng cao thêm lên. Ngoài học làm người, học
tích luỹ tri thức, học thành tài phục vụ gia đình, xã hội, nay học còn
để “biết cách chung sống với cộng đồng”. Cụm từ trong ngoặc kép thu hút
đông đảo các em tham gia ý kiến.
Phương Hạ vui vì những gì đem ra
trao đổi đều có sự đồng cảm khá sâu sắc. Điều nầy chứng tỏ lớp trẻ không
thụ động, chỉ có cách làm sao đưa ra phương pháp gì giúp cho “tuổi trẻ
sống thật vì mình và vì mọi người” là việc cần được quan tâm.


Câu
chuyện văn chương được các em tham gia thật thú vị. Như vậy bên cạnh ham
thích cập nhật mạng Internet, giới trẻ cũng dành thời gian đọc sách đó
chứ!. Truyện của Phương Hạ và truyện của văn sĩ Nguyễn Nhật Ánh người
cùng quê đang sống ở Sài Gòn được nhiều bạn trẻ mua và đọc là thực tế
sáng sủa. Theo các em người viết văn ngoài tài năng còn cần có tâm trong
sáng, có thế mới sống và viết thật lòng và viết trúng. Phương Hạ đọc
cho các em một truyện ngắn trong tập bản thảo truyện XXV của Phương Hạ,
không khí lặng im... lát đát có em tỏ vẻ xúc động...


Phương Hạ đọc xong hỏi: “Các em cảm nhận điều gì qua truyện ngắn Phương Hạ vừa đọc?”.
Khi ấy hình như các em mới sực tỉnh và lộ rõ bao niềm vui.
Một em ý kiến: “Truyện của chị thật sâu sắc và chan chứa tình người!”.
Một em khác ý kiến: “Rất tuyệt!”. Và hỏi: “Bao giờ chị xuất bản tập truyện nầy?”.
(Còn tiếp)


H.V



Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

THƯƠNG CẢM CÔ KIỀU OANH!








Tạp văn

















Cuộc sống vốn ko dễ dàng như ta thường tưởng... Điều nầy ko
lạ nhưng ko phải ai cũng thấu hiểu.













Người Gò Nổi-Quảng Nam mà đặc biệt bắc miền Trung vừa qua những ngày đêm lo âu bởi
liên tiếp lũ... và bão... chồng lên nhau gây nên ko ít thiệt hại về vật chất
“nhà xiêu vách đổ mái tốc phên bay vườn tược cây cối ngổn ngang...” nhưng có lẽ
sự “ngổn ngang” “thiệt hại” ko thể cân đong do đếm hơn cả là về mặt tinh thần.


 

Sự nơm nớp cứ mỗi mùa mưa bão về lâu còn đeo đẳng... Nếu ko
có một giải pháp tối ưu gì đó “Sống chung với bão lũ” khả thi.













Viết đến đây hay tin cô Hồ Thị Kiều Oanh (O.)18 tuổi nhà ở
gần trường THCS Nguyễn Đình Chiểu Điện Phong – GN ko rõ nguyên nhân nào chiều
ngày 25/10/2013 sau khi cùng bạn trai đi khám bệnh về ngang qua cầu Câu Lâu
(mới) đã lao người xuống dòng sông đục ngầu màu “phù sa” đang cuồn cuộn chảy...













Cô O. vừa học xong THPT, vừa thi Đại học. Đại học! Ko phải
chỉ có đại học mới là con đường duy nhất để có tương lai tốt đẹp. Điều nầy
nhiều người biết cho nên việc hỏng thi đáng ngại nhưng đừng quá lo. O. ko đỗ ĐH
 đang đi làm công nhân ở Khu công nghiệp
Điện Nam
- Điện Ngọc, có sao đâu?. Xã hội phải có người làm việc nầy người làm việc nọ
chuyện bình thường.













Chuyện cô O. quyên sinh giờ nhiều người tán ra tán vào, bảo
nguyên nhân nầy nọ nhưng chắc gì đúng!. Sự việc đáng thương tâm dồn dập xảy ra ở
cùng một địa bàn thôn Cẩm Phú-ĐP-GN trong vòng mười mấy ngày qua...






Trước bão Nari (bão số11) một thanh niên mới có vợ một con
lúc phòng bão đã rơi từ mái nhà xuống tử thương nay một cô gái trẻ măng vướng
chuyện gì chưa rõ nhảy cầu quyên sinh!. Thân nhân của hai gia đình nạn nhân vô
cùng đau đớn cả xóm thôn cũng cảm thương ko kém!.








Cuộc sống vốn ko dễ dàng gì...






Cô O. tưởng như vậy cho xong nhưng... bao rắc rối đang đè
nặng lên gia đình cô. Ba mẹ và bốn người chị đang rối bời ruột gan. Bạn bè
người thân cũng đứng ngồi ko yên... Cả xóm làng thương cảm!.






Bây giờ nói gì nữa chỉ biết chia buồn cùng gia đình cô O....!.






HV


-----






Ảnh: Mẹ cô O. khóc ngất...

Truyện ngắn Hòa Văn: BẾN AN LÀNH


 











1. 




 Mân
Thái đứng trước tấm gương như thế nầy đâu mươi lăm phút rồi. Diện bộ
cánh mỏng tanh vải lụa màu gi thế mà vẫn toát ra bao sức nóng hừng hực
lúc nầy mà lỡ có bất cứ cái gì va vào chắc sẽ bị thiêu rụi ra tro ngay!.
Mân Thái tự mỉm cười sau ý nghĩ hơi kỳ hoặc ấy. Nói thật đang ở độ tuổi
bốn mươi hai, đã gần mười lăm năm sống đơn thân kể từ cái ngày...





Mân Thái đang nghĩ ngợi mung lung về chuyện ngày xưa... Cu Tĩnh ở đâu chạy ùa vào ôm chầm lấy mẹ:
“Mẹ đi đâu mà đẹp dậy!”.
Chính câu hỏi vô tình của đứa con đang ở tuổi teen càng xác nhận Mân Thái còn đẹp!.


 

Mân Thái nói:
“Sáng nay, con theo mẹ lên chùa nghe.”.



“Làm gì, mẹ?”.
“Ời! Trước lễ Phật sau gởi con cho thầy Hạnh Như dạy con đạo nhà Phật!”.
Việc
nầy Tĩnh Tĩnh nghe mẹ thưa với thầy Hạnh Như trù trì chùa Huệ Quang
trong lần đi vãng cảnh chùa hồi cuối năm học. Không phải Tĩnh Tĩnh đồng ý
ngay đâu, cậu ta quầy quậy không chịu, bảo rằng kỳ nghỉ hè sắp tới mẹ
để con đi về quê thăm ngoại. 




*

Cu cậu vẽ ra nhiều điều lý
thú nếu được về nơi đồng quê không xa mấy, chỉ mươi lăm cây số, nào là
cùng bọn nhóc ở đó thả diều, bắt chim, bắt cá...
Nhưng thú nhất là
màn đánh giặc giả giữa xóm Bà Già với xóm Con Nít - Cả hai tên xóm mới
nghe lần đầu, Tĩnh Tĩnh thấy nó dân dã và ngộ nghĩnh thiệt – Khi nhóc
Tép nói lại kỹ càng mới té ngữa ra, đây không phải là danh xưng chính
của hai xóm mà chỉ là biệt danh do các nhóc thủ lĩnh Tép xóm Bà Già, Tỉn
xóm Con Nít tự đặt. Lúc đầu giỡn chơi cho vui thế mà không biết răng
hắn trở thành tên riêng của cả bọn nhóc hai xóm. Tĩnh Tĩnh cũng thấy vui
vui khi kêu theo nên tới chừ cũng chưa biết tên thật của hai xóm là gì.

“Bà Già đây!”.
“Con Nít đây!”.
Điệp khúc trên lặp đi lặp lại mỗi khi hai xóm bắt đầu trò chơi đánh giặc giả.
Tĩnh
Tĩnh mới nhập bạn có non tuần nhựt thế mà coi bộ sành tất cả các chiến
kỹ thuật tác chiến của đoàn quân xóm Bà Già dưới quyền chỉ huy của thủ
lĩnh Tép.
“Chiến binh Tĩnh Tĩnh vào kho nhận súng, đạn!”.
Thủ lĩnh Tép nói gọn gàng từng chữ một giọng đanh và rõ đúng y người chỉ huy ra lệnh cho cấp dưới thật sự.
Hơi bất ngờ một chút thôi, chiến binh Tĩnh Tĩnh lấy lại bình tĩnh đáp to và cũng rõ:
“Tuân! lệnh!”.
Rồi
ù chạy vào bụi rậm phía bên kia đường. Đó là hàng chè tàu nhà ông Chín
người chuyên đi bán chè chín dạo khắp nơi, lâu lâu mới về nhà đâu vài ba
bữa không biết để làm gì sau đó lại đi. Ngôi nhà của ông trở thành tổng
hành dinh của các chiến binh xóm Bà Già.
Khẩu súng Tĩnh Tĩnh được nhận là “súng liên thanh” làm bằng ống cây trảy cỡ to.
Trước khi trao súng Tép nói:
“Đây là ống thụt “bự” nhất mình tự làm được chứ mấy khi cỡ nầy phải qua tay ông Chín chè mới được!”.
Tép phân bua với Tĩnh Tĩnh như vậy. Rồi cầm ống thụt “bự” vừa tả chi tiết vừa hướng dẫn cách xử dụng.
Đây
nè phần cuối ống thụt có gắn một cái cổ chai nước ngọt gọi là cái loa
súng, tác dụng của loa súng khi dùng trái bời lời nhắt vào ống thụt làm
đạn bắn sẽ phát ra tiếng nổ, tiếng nổ của súng có loa sẽ kêu to và thanh
lắm!. Cái công đoạn cắt lấy cổ chai do ông Chín chè làm giúp, ông lấy
dây kẻm quấn vải cột vào chỗ cổ chai muốn cắt thấm dầu tây xong đốt vòng
dây kẻm vải ấy cho lửa đỏ một chặp, cái nầy ông Chín chè kinh nghiệm
nên lần nào cũng vậy hễ ông nói được là thả chai vào chậu nước lạnh
ngay. Bốp tiếng kêu như vậy là được rồi cái chai được cắt thành hai
phần, phần cổ chai đem gắn vào ống thụt. Đoàn chiến binh của Tép chỉ có
vỏn vẹn hai khẩu “liên thanh” còn lại là súng thường, tức là các ống
thụt làm bằng ống cây trảy cỡ bình thường lỗ của nó vừa vặn với trái bời
lời.
Ông Chín chè bữa nay có ở nhà. Khi các nhóc tụ tập dàn binh bố
trận bên hè là lúc ông đang nghỉ trưa, giờ mới dậy. Ông Chín chè nói
như quát:
“Mấy đứa bay mần chi rứa!. Vô đây đã!”.
Tính của ông
là vậy. Thích trẻ con lắm!. Thế mà không biết tại sao đến bốn mươi mấy
tuổi rồi ổng chưa chịu có vợ. Ngày hòa bình về lại quê bà con bàn tán
anh Chín nầy giỏi tiếng Mỹ lắm. Thực hư không biết nhưng ngó phong cách
đi đứng và cả cách lao động cũng khác thiên hạ, Thư thái đàng hoàng, giờ
nào việc ấy không hấp tấp và nhất là không bao giờ làm ẩu điều gì!.
Cuốc đất bệ thì cuốc từng nhát cuốc một, lật đất sắp lớp trông đẹp mắt
chứ không như người khác loạn xạ và còn cuốc dối nữa... tức là cuốc năm
ba nhát cuốc thì bỏ một nhát không cuốc. Phần đất không cuốc lên đó được
che đậy bởi miếng đất bệ do vậy khó phát hiện. Lao động một thời gian
anh Chín đi buôn chè chín. Chè chín khi ấy được mọi người ưa chuộng, bỏ
một nhúm chè vào ấm đổ nước lưng ấm nấu sôi, dùng làm nước uống hằng
ngày, nhất là khi lao động mệt nhọc có bát nước chè chín uống vừa ngon
vừa đã khát lắm!. Nghe nói hồi trai trẻ ông Chín chè có quen một cô ở
xóm trên nhưng quen biết suốt ba năm không một lời hứa hẹn gì, sau đó cô
nàng đi lấy chồng bên kia sông, anh Chín ở vậy. Về sau ai có nói tới
chuyện vợ con anh chỉ cười cười... Nụ cười ẩn chứa một điều gì đó khúc
mắc!.
Với bọn nhóc trong xóm Chín chè là trai tân nên kêu bằng anh ngon lành.


*

Cả bọn nhóc ùa vào vây quanh anh Chín một cách rất tự nhiên. Anh đi vào buồng xách ra mấy nãi chuối mốc chín sẩm vỏ.
“Mấy đứa ăn nghe. Oản của Phật đấy!”. Anh Chín nói.
Tép đứng lễ phép thưa:
“Dạ cám ơn anh!”.
Xong bưng một nãi đưa Tĩnh Tĩnh:
“Bẻ chia cho mấy đứa ăn”.
Nãi còn lại Tép mời anh cùng ăn.
Chín nhìn chằm chằm Tĩnh Tĩnh hỏi:
“Đứa mô “trắng da dài tóc” rứa?”.
Tĩnh
Tĩnh cười ngất trước câu hỏi hay như làm văn của anh Chín. Câu hỏi đúng
một nửa so với các nhóc Tép, Phiên, Dưng, Miễn,... ở đây Tĩnh Tĩnh dân
phố nên da dẽ có trắng trẻo hơn thiệt còn đầu tóc không phải như câu
thành ngữ mà ảnh vừa nói. Tóc Tĩnh Tĩnh được cắt theo kiểu đầu đinh từ
hôm nghỉ hè kia. Mẹ Tĩnh Tĩnh bảo “Hớt thế cho mát với lại mạnh mẽ
nữa!”. Tĩnh Tĩnh nghĩ bụng chắc "ổng" cho mình là dân “ăn sung mặc
sướng”!.
“Dạ! hắn là cháu dì út Trâm đó anh!”.
Tép cũng lễ phép thưa.
“À! Rứa là cháu ngoại bà ba Quýt?”.
Bước tới sát Tĩnh Tĩnh lấy tay xoa xoa cái đầu tròn vo.
“Anh nói lại nghe! Thằng “trắng da ngắn tóc” đẹp trai hỉ!”.
Bọn
nhóc cười ồ. Tép nói như lệnh “Từ nay Tĩnh Tĩnh mi sẽ là chiến binh
“trắng da ngắn tóc” nghe chưa?”. Cả bọn nhóc lại thêm một trận cười
nghiêng cười ngã.
Chín nói Mẹ của chiến binh “trắng da ngắn tóc””
làm trúng đó! Người ta nghiên cứu kỹ rồi trẻ con hay nói chính xác là
người đi học (cả người đi dạy nữa) sau chín tháng miệt mài ăn học (ăn
dạy) phải có khoảng thời gian nghỉ cho thong thả nói theo kiểu mới là
giải strees, mà thời điểm nghỉ đúng vào tiết trời nắng nóng vậy nên gọi
là kỳ nghỉ hè. Đã nghỉ hè thì chơi là chính! Thời anh nhất định như thế
không có học thêm học bồi chi cả!.
Chín hỏi Tĩnh Tĩnh có đúng không?.
Cả bọn nhóc đồng thanh hô:
“Đúng! Đúng ạ!”.
"Mấy đứa có biết strees là chi không?".
Tất cả im lặng. Anh nói:
"Là căng thẳng chứ chi đâu?".
Và nói tiếp:
Việc
đầu tiên là mấy đứa phải biết nhận ra "Các dấu hiệu của stress bao gồm
những bất bình thường về thể chất, thần kinh và quan hệ xã hội. Cụ thể
là sự kiệt sức, tự dưng thèm ăn hoặc bỏ ăn, đau đầu, khóc, mất ngủ hoặc
là ngủ quên. Ngoài ra, tìm đến rượu, thuốc, hoặc những biểu hiện khó
chịu khác cũng là những dấu hiệu của stress. Stress còn đi kèm với cảm
giác bất an, giận dữ, hoặc sợ hãi. Đối phó với stress là khả năng giữ
cân bằng khi xảy ra những tình huống, sự kiện đòi hỏi quá sức." (*).


Cả bọn nhóc xóm Bà Già giờ ngồi bệt ngay ngắn dưới nền nhà anh Chín mới lót gạch men mát rượi ngẩng đầu lắng nghe. 



2.

 



                               



Xế
chiều rồi mà nóng kinh khủng, mặt trời tròn vo nằm gác lên bên trên
ngọn núi Bà Sa tựa hồ khuôn mặt ai đó đỏ gay đỏ gắt vì gặp bữa quá vui
uống rượu quá chén đang xin xỉn nửa ngồi nửa nằm dòm xuống xóm Bà Già.


May
mà trong vườn nhà anh Chín cây trái sum sê, nhất là mấy cây bòng cựu
qua thời chiến tranh không bị sứt mẻ gì tán cây to như những cánh tay
khoẻ khoắn dang rộng ra che phủ gần nửa sào đất, trên đó hàng chục ...
hàng chục... trái bòng ươm có; chín có và có cả trái non non treo lủng
lẳng trông đẹp mắt, bắt miệng bọn nhóc thèm thèm miết dù chỉ cách đây
hai bữa lúc anh Chín vắng nhà bọn nhóc Tép đã tha hồ “trưng dụng” ăn
cành hông ớn tới cổ rồi...


*
Cuộc
truy bắt quân địch đang hồi gay cấn, thủ lĩnh xóm Con Nít, Tỉn khòng -
tại cu cậu cao lòng khòng nên bạn trong xóm gọi thế - bữa nay đóng quân
địch không chịu thua trận, hắn biểu bên ta thua một trận chứ ai đời
chiến tranh mà bên thắng thắng miết bên thua thua miết như rứa làm chi
có chiến tranh nữa!. Cái tối hậu thư được chiến binh “Trắng da ngắn tóc”
cầm về trao tận tay thủ lĩnh Tép khi cu cậu được trao trả "tù binh"
trước đây non nửa tiếng đồng hồ.
Tép mở buổi họp khẩn. Mọi người tỏ
vẻ căng thẳng chụm đầu vào nhau nhỏ to điều chi đó lâu lắm. Chiến binh
Hà Miễn không chịu, đã ra quy định rồi phe mô hết đạn im tiếng súng
trước là thua, nhứt định họ sắp cạn nguồn "đạn dược" rồi nên bày trò...
Tép đứng dậy ôn tồn nói:
“Suy
cho cùng bên xóm Con Nít lâu nay trung thực lắm. Đừng suy luận lung
tung nếu lỡ đánh thêm nửa tiếng mình hụt đạn thua ê lắm!”. Hà Miễn chưa
chịu, ý kiến đề nghị thủ lĩnh cho kiểm tra "khí tài quân nhu" rỗi hay!.
Tép đồng ý.
Đâu ba phút sau Dưng mập - kêu Tĩnh Tĩnh bằng anh em bạn
dì ruột - báo cáo ngắn gọn qua di động “Bọ cạp đã ăn no sắp đi ngủ”. Tép
nghe xong hỏi lại “Trước khi ngủ không ăn ráng được ba mươi chén à!”.
“Báo cáo “no””.
Số là cách đây hai ngày, Tép cho ứng dụng kiểu ngâm
trái bời lời vào nước tiểu theo cách anh Chín biểu nhằm bắn cho nó nổ to
hơn, mà thiệt vậy nên chiến binh nào cũng ham bắn, “cây súng” nào cũng
ăn đạn nhanh hơn nên mau hết đạn là đúng. Chứ như mấy hôm trước cứ hái
trái bời lời xong để y rứa bắn chục phát được đâu sáu bảy phát kêu ba
bốn phát thúi, bảo chiến binh ham bắn chi!.
Nghe báo cáo xong Tép hội ý trở lại bằng bỏ phiếu kín. Kết quả đánh!.
Rất may có anh Chín tham gia, anh nói:
“Chiến
tranh trong trò chơi của tuổi thơ các em thật thích thú hào hứng nhưng
chiến tranh thật sự sẽ đem lại bao nghiệt ngã, mất mát đau khổ!. Chỉ khi
nào nền độc lập tự do, lãnh thổ của một quốc gia nào đó bị một nước
khác xâm phạm mà qua thương lượng hòa giải không được, buộc nước ấy
phải chống lại, chiến tranh mới xảy ra. Hòa bình là tốt nhất!. Thôi nghỉ
chơi! Kêu cả xóm Con Nít cùng tới đây nghe anh Chín kể chuyện”.
Các
nhóc chỉ đợi có vậy, vụt chạy ra từ các chòm cây chè tàu, cây vạn tuế,
cây chuối nước,... những “dây thông hào”, “hầm trú ẩn” theo cách ví von
của nhóc chiến binh. Rồi reo hò y như mừng ngày đất nước hòa bình. Tép
điện thoại cho Tỉn khòng truyền chỉ lệnh của “Tư lệnh trưởng” anh Chín.
Không đầy một phút sau các nhóc xóm Con Nít đã tề tựu đông đủ dưới gốc
bòng cựu.
Anh Chín mà kể chuyện mấy nhóc không nghe thì chắc trời nầy
có gì thay đổi!. Nên chi tất cả nhóc chiến binh hai xóm tay bắt mặt
mừng... xúm xít trật tự chờ...
Anh Chín bữa nay coi bộ điển trai lạ.
Anh mặc chiếc áo thun màu gi kem bó sát thân để lồ lộ hai lồng ngực căng
tròn, đầy phong độ ai mà không biết chắc nói anh mới trên ba mươi tuổi
là nhiều!. Đặc biệt anh không rầu rầu như mọi khi cho nên khuôn mặt nhất
là đôi mắt sáng hẳn lên tràn đầy sinh lực. Tép kê miệng vào tai nói
thầm với Tĩnh Tĩnh “Mi ngó coi mắt anh Chín bữa ni có lửa!”. Tĩnh Tĩnh
gật gật đầu cười tươi rói!.
Anh Chín tuyên bố: “Chừ cho mấy đứa trèo
lên cây hái hết trái bòng ươm ươm, trái chín xuống làm bữa tiệc nhộng
xào bòng nghe!”. “Anh hỏi đố các em nhộng ai mua?. Rồi tự trả lời: ”Mẹ
của Tép đi chợ gặp món nhộng tằm tươi ngon quá biết anh thích món đặc
sản nên mua giùm hồi chiều, tới hai ký lận!.”
Rồi anh vui vẻ nói tiếp:
“Anh có câu chuyện mới căn hay lắm nhưng để mai kể được không?.
Hỏi
vậy nhưng thấy bọn nhóc ỉu xìu buồn xo, anh Chín cầm lòng không đậu kể
luôn: “Câu chuyện hồi anh còn ở tuổi các em bây chừ, bên cạnh chơi các
trò chơi nhảy lò cò, nhảy tàu bay, nhảy dây, chơi ăn ô quan, u mọi, đánh
nẻ... các anh chị còn ham trò chơi đám cưới. Cô dâu khi thì bé Thi, khi
thì bé Hà Liên... còn chú rể đa phần do anh đảm nhiệm. Khó nhất là phải
trang điểm cô dâu làm răng cho thật khéo, mấy bé lần sau mới chịu tham
gia tiếp trò chơi nên chi cả nhóm tập trung lắm. Anh xung phong lấy
chiếc áo xoa bông màu cánh sen của mẹ anh cho cô dâu mượn, còn nào là lá
mít chằm lại thành khăn đóng cho chú rể, hoa cỏ kết thành vương miện
cho cô dâu đội lên đầu... Lần nào cũng vậy sau khi trang điểm xong cho
đôi "tân hôn", cả lũ con nít cùng các anh chị kéo nhau đi đưa dâu về nhà
chồng, lộ trình là đi quanh quanh trong xóm. Nhìn cô dâu nhỏ nhắn xinh
xắn môi đỏ má hồng được xức màu đỏ bông bụt, bông chuối nước... nhìn đôi
mắt cô dâu buồn long lanh chực khóc mà thương quá!. Người ta nói tại
anh hay sắm vai chú rể nên tới giờ duyên số mãi long đong...
Anh kể vừa dứt bọn nhóc vỗ tay tán thưởng và nói chắc các em cũng sẽ bắt chước trong nay mai.
Mặt trời xuống núi rồi... Trong khu vườn nhà anh Chín đâu đó có tiếng chim kêu thánh thót... gọi bầy về tổ...

Kết
Mân
Thái cưng cậu con trai lắm lắm!. Mà không cưng không thương sao được,
có cha mà như không!. Câu chuyện của Tĩnh Tĩnh đã nhiều lần Mân Thái
muốn kể cho nó nghe mà mỗi lần định nói thì có cái gì nghèn nghẹn nơi
cổ, mắt chực khóc nên thôi.

Tĩnh
Tĩnh theo bà ngoại về chơi với con dì Trâm mươi ngày nửa tháng ở dưới
quê cho thoả thích. Hơn mười mấy năm rồi hai mẹ con tha phương ở tận
miền Tây Nam bộ, một vùng sông nước ai không có tình thì khó mà ở lâu.
Mân Thái là ngoại lệ, đến miền xa xôi nầy không mưu cầu việc gì chỉ mong
khuây khoả nỗi ưu tư trong lòng sau vụ ly thân rồi ly hôn với người
chồng giàu có dư ăn dư để của cải vật chất nhưng so đo từng tí mặt tình
cảm. Nói cho đúng cũng tại Mân Thái mà ra...
Một năm đầu "cơm lành
canh ngọt" là bề ngoài thấy thế chứ phía bên trong ngôi nhà hai tầng
được xây theo kiểu nửa Tây nửa Đông như lò lửa nó âm ỉ ngún từ bụi tro
than. Đó là sự thật phủ phàng của một hôn nhân không tình yêu!. Một bữa
Mân Thái nói giỡn với chồng "Đố anh thằng Tĩnh Tĩnh con ai?". Tưởng nói
cho vui thế mà anh chồng đa nghi đã lén lút đi thử ADN giữa cha và con.
Kết quả điều mà Mân Thái từng hồ nghi là đúng.
Ngày xưa... ở quê cũ
Mân Thái và... yêu nhau, tình đầu chân chất thơ mộng kết thúc đột ngột
khi mẹ quyết định gã con gái cho người giàu có ở Sài Gòn. Nước mắt của
Mân Thái khi ấy không còn giọt nào... điều không bao giờ nghĩ đến đã
đến. Người con trai đẹp trai lịch thiệp chỉ có cái thiếu may mắn chưa có
danh phận gì cho nên đành buông tay người mình yêu, kể từ đó anh trầm
tư, bỏ xóm làng đi... lâu lâu mới ghé lại uống rượu thật say với bạn bè
xong lại lên đường.
Cách đây hai tháng Mân Thái dọn từ miền Tây về
phố cổ Hội An, mở một shop mua bán các sản phẩm lưu niệm cho khách du
lịch gần biển cửa Đợi. Ngoài những ngày mua bán Mân Thái thường dành
thời gian đi chùa, làm việc thiện.
Chùa Huệ Quang mới được trùng tu
lại thật uy nghi nơi chánh điện thờ Phật và tươm tất nơi tu tập nơi ăn
chốn ở của các thầy và chú tiểu. Mân Thái cúng dường Tam Bảo chưa được
nhiều nhưng như thế là đúng với tấm lòng của người phật tử thuận thành.
Thầy Hạnh Như trù trì nói như vậy.
Mân Thái không có làm gì hơn người
khác, chủ yếu để thanh thản lòng sau bao năm lận đận nay đời sống kinh
tế khá hơn, nhứt là thằng con trai Tĩnh Tĩnh biết thương yêu mẹ, học
hành giỏi giang là điều sung sướng nhất.
Qua hơn nửa tháng ở với bà ngoại và dì Trâm trở về Tĩnh Tĩnh cứ nhắc mãi anh Chín. Tĩnh Tĩnh nói:
“Mẹ mà gặp anh ấy mẹ thích nói chuyện thôi!”.
Vừa
nói Tĩnh Tĩnh vừa vùi đầu vào mái tóc dài óng mượt của mẹ, khen tóc mẹ
mới gội bồ kết thơm lựng!. Tĩnh Tĩnh vui vẻ kể tiếp nào là anh thương
con nhứt trong số các bạn xóm Bà Già, nào là con nói thật mẹ đừng rầy
con nghe hết hai phần ba ngày đêm ở quê con ở với ảnh, nào là tiếng gọi
bằng anh chứ tuổi đâu lớn hơn mẹ hai ba tuổi gì đó. À quên anh Chín nói
hổng biết sao tối nào có con nằm ngủ một bên ảnh ngủ ngon giấc lắm mẹ
nghe!...
Nghe con tâm sự lòng Mân Thái rộn lên bao điều tưởng như lùi
vào dĩ vãng. Anh Chín!. Người hồi xưa còn con gái Mân Thái yêu thương
vô cùng là anh đấy sao?.
*
Lễ
Phật Đản tại chùa Huệ Quang tưng bừng nhộn nhịp, mọi Phật tử ai nấy
cũng cảm nhận biết bao điều phúc đức hiển hiện trong cõi tạm có được là
do biết buông xả tham, sân, si.
Đuốc tuệ rạng soi hàng mấy ngàn năm qua ngày một rực sáng.
Nghe
bài kinh Khánh Đản: “Đệ tử hôm nay/ Gặp ngày Khánh Đản/ Một dạ vui mừng
Cúi đầu đảnh lễ/... / Học đòi đức tánh quang minh/ Cúi xin Phật Tổ giám
thành/ Từ bi gia hộ/... lòng Mân Thái thật thanh thản. Trong tâm trạng
ấy bất ngờ Mân Thái gặp lại anh Chín cùng với Tĩnh Tĩnh đi chùa lễ Phật.
Đi với Tĩnh Tĩnh có cả đoàn khách du lịch nước ngoài Mân Thái không
hiểu gì cả. Tĩnh Tĩnh nói: "Đoàn của anh Chín, Công ty du lịch lữ hành
Phố Cổ đó mẹ!"

Sau lần gặp gỡ mọi chuyện sáng tỏ. Tĩnh Tĩnh chính là quả ngọt của cây hạnh phúc Chín - Thái ngày nào...
Một
bữa tiệc trà tao ngộ được anh Chín tổ chức bên bờ sông quê xanh ngát
thấm đẫm tình yêu thương. Chú rể và cô dâu bước bên nhau ở chính nơi bến
nước ngày xưa... từng chứng kiến một cuộc chia tay đầy nước mắt... Cái
bến trước đây hay gọi theo tên người đưa đò ngang bến ông Chờ, bây giờ
có tên gọi mới bến An Lành./.




------------
Minh họa internet

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

BÁNH XÈO


 






Tạp văn







Quảng Nam có nhiều
món ăn đặc sản mà tên gọi không lẫn vào đâu được!. Như bánh xèo chẳng hạn.










Xánh xèo làm từ bột gạo. Gạo
ngon. Gạo khi ngâm xay (máy) bột thật mịn mà khi đúc không được dính chảo hoặc
bị nhảo như gạo lúa lốc ngày xưa và gần đây là lúa 13/2.








Bây giờ muốn ăn bánh xèo dễ
ợt. Hoặc máy bột bằng gạo hoặc mua bột khô về đúc. Các món tôm, thịt, rau
giá... có ngay ở chợ hoặc quán xá...






Ngày xưa... muốn ăn cái bánh
xèo phải tính đôi ngày tuần lễ nào là... Gạo đâu? Dầu đâu? Thịt đâu?... 








Mọi vật liệu đương nhiên ít
nhiều đã có sẵn ở chợ quê xưa nhưng mẹ mình hay ưng cái gì cũng tự tay làm ra
một là thích hai là cho đỡ tốn!.






Gạo là phần tiết kiệm hằng
ngày, mỗi bữa một nắm, giá đậu (đỗ) vừa làm rau vừa làm gia vị bỏ vào cùng lúc đúc bánh
xèo thì lấy cát bờ sông về cho đậu xanh vô hũ rồi rắc cát lên từng lớp một làm
giá (Giá phải làm trước bốn ngày). Rau sống “cây nhà lá
vườn” nhiều nhất là các loại cải con, búp chuối, khế, trái chuối chát... 


Nhưn
bánh thường là tôm, thịt heo, có khi là thịt gà mái tơ của nhà nuôi. 





Nước chấm bánh xèo không cầu
kỳ nhưng phải ngon... có khi chấm với mắm cá cơm đã nục, khi thì với nước mắm
Nam Ô. Mắm gì cũng phải cho thêm gia vị ớt cho cay, dấm (chanh) cho hơi chua
chua và hòa thêm chút nước có đường ngòn ngọt để giải bớt vị mặn của nước chấm
là được.




Các công đoạn làm ra một cái
bánh xèo cả nhà cùng tham gia. Ba chẻ củi, mẹ xay bột, bà lặt rau, làm nước chấm... Phần đúc
bánh là mẹ.




Ăn bánh xèo ngon nhất là mùa
đông lạnh giá. Ngoài trời mưa dầm mưa dề trong nhà thơm phức “mùi bánh xèo” là
không gì thích bằng.









Hồi nhỏ mình thường được “ưu
tiên” xơi cái bánh xèo đầu tiên. Bánh xèo ăn vô miệng béo ngậy thơm lựng quá
đã!.

 







-------------


(Ảnh của Tran
Thien Cong Fb)

TRUYỆN NGẮN CỦA ALICE MUNRO (NOBEL 2013): THỊ TRẤN BÊN ĐƯỜNG


 









Lời giới thiệu: Alice
Munro sinh ngày 10 tháng Bảy năm 1931 ở Wingham, Ontario, Canada, với
tên khai sinh là Alice Ann Laidlaw. Cha của bà là chủ nông trại, mẹ là
cô giáo. Bà trải qua tuổi thơ ở thị trấn Clinton, nơi bà cũng thường trở
về sau này. Theo học đại học Western Ontario, nhưng rời trường sớm khi
lập gia đình năm 20 tuổi. Bà và gia đình sống ở một đảo ngoài khơi
Vancouver nhiều năm nay, coi sóc tiệm sách có tên là Munro. Hai ông bà
có với nhau ba đứa con, hôn nhân của họ th
ời trẻ có một
thời kỳ tan vỡ. Sinh quán của Alice Munro, Ontario, là tỉnh bang lớn
nhất Canada, gần bên Ngũ Đại Hồ. Vùng phía nam của tỉnh là vùng có khí
hậu ôn hòa, cảnh sắc xinh đẹp, đất nông nghiệp bằng phẳng, nhiều sông
hồ. Trong truyện của Munro, có cảnh vật của Ontario hoặc thiên nhiên
hoang dã trên đảo Vancouver.


 




Truyện của bà viết về đời sống những
người bình thường, với văn phong giản dị, trong trẻo và đẹp. Nhưng đó là
bề ngoài dễ gây ngộ nhận. Thật ra văn của Alice Munro không dễ hiểu.
Người đọc cần chú tâm đến từng chi tiết mà bà để lại dọc đường. Bên
trong là sức mạnh của sự mô tả chính xác, phân tích sắc bén các xung đ
ột,
sự nghiêm khắc với thói dung tục và a dua, tính hài hước, và lòng trắc
ẩn.






Alice Munro nhận nhiều giải thưởng, trong đó ba lần giải General
Governor, giải thưởng danh giá nhất Canada, và giải Man Booker
International năm 2009. Dù sức khoẻ yếu, bà có khả năng làm việc đều
đặn, bền bỉ. Tác phẩm (tạm dịch): Vũ Điệu Những Cái Bóng Hạnh Phúc
(Dance of The Happy Shades)(giải GG), Cuộc Đời Những Cô Gái và Đàn Bà
(Lives of Girls and Women), Bạn Nghĩ Bạn Là Ai Kia? (Who Do You Think
You Are), Những Mặt Trăng Của Mộc Tinh (The Moons Of The Jupiter), Tiến
Triển Của Tình Yêu (The Progress of Love) (giải GG), Chạy Trốn
(Runaway). Năm 80 tuổi, xuất bản tập Quá Sức Hạnh Phúc (Too Much
Happiness). Tiếp sau đó, trước sự ngạc nhiên của nhiều người, tác phẩm
mới Cuộc Đời Yêu Dấu (Dear Life). Một truyện của bà, Gấu Về Qua Núi (The
Bear Came Over The Mountain), một chuyện tình cảm động, đã được Sarah
Polley chuyển thành phim với các tài tử Julie Christie và Gordon
Pinsent. Truyện ngắn sau đây, nguyên văn tiếng Anh “Miles City, Montana” rút từ tập The Progress of Love, 1985, NXB Alfred A. Knoft.
Miles City là tên một thị trấn nhỏ, dân số không quá một ngàn người,
Montana là một tiểu bang ở vùng Tây Bắc nước Mỹ, sát biên giới Canada.




Kín đáo, khiêm cung, Alice Munro
không phải là người của công chúng, và ít khi xuất hiện trên báo chí,
ngoại trừ tác phẩm của mình. Cách đây bốn năm, khi tôi đến nghe một buổi
hội thảo ở Vancouver sau giải Man Booker International, với nhiều nhà
văn nổi tiếng như Margaret Atwood đọc những tham luận xúc động, đ
ầy yêu mến, nhằm tuyên dương tác phẩm của bà, Alice Munro đã không có mặt. Trên thế giới nhiều người vẫn không biết đến tên bà- mặc dù năm
2005, tuần báo Time đã chọn bà là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng
nhất- cho đến ngày 10 tháng 10 năm 2013 vừa qua. Ngày hôm đó, Ủy ban
giải thưởng Nobel đã không thể liên lạc được với nhà văn để báo tin vui.
Các độc giả cũng không tìm đọc bà như tìm đến các tên tuổi văn học
khác, đôi khi họ bắt gặp bà một cách tình cờ trên kệ sách, và tự hỏi: bà
này là ai?




Tôi chọn truyện “Miles City, Montana”
vì đó là truyện ngắn đầu tiên của bà mà tôi được đọc, cách đây mười bốn
năm, trong một thời kỳ hỗn loạn. Truyện của bà đã giúp tôi đứng lại,
nhìn xuống, thấy được chính thật tình trạng của mình. Tôi dịch truyện
ngắn này như một lời cám ơn lặng lẽ.




***




THỊ TRẤN BÊN ĐƯỜNG





Truyện ngắn của ALICE MUNRO




NGUYỄN ĐỨC TÙNG dịch




Cha tôi băng qua cánh đồng ôm xác một
đứa bé trai bị chết đuối. Họ có nhiều người, trở về sau cuộc lùng kiếm,
nhưng ông là người mang xác thằng bé. Những người đàn ông mình mẩy đầy
bùn, mệt lả, bước đi đầu cúi xuống, như thể họ là những người có lỗi.
Ngay những con chó cũng chán nản, lông nhểu nước từ con sông lạnh giá.
Thế mà vài giờ trước đó khi khởi sự, chúng còn tỏ ra bồn chồn, chạy
quanh sủa ăng ẳng, những người đàn ông quyết tâm, căng thẳng, và có một
không khí kích động bị kìm nén lại, không diễn tả được, bao trùm toàn bộ
khung cảnh. Lúc đó ai cũng biết rằng có thể họ sẽ tìm thấy một điều gì
khủng khiếp.




Tên của thằng bé là Steve Gauley. Tám
tuổi. Tóc và quần áo nó nhuốm bùn, bê bết cỏ, cành vụn và lá chết. Nó là
nỗi cự tuyệt được gởi lại từ mùa đông. Mặt nó úp vào ngực cha tôi,
nhưng tôi vẫn còn thấy được một lỗ mũi, một vành tai nhét đầy bùn xanh
lợn cợn.




Tôi không nghĩ thế. Tôi không nghĩ rằng
tôi đã thực sự trông thấy những điều ấy. Có lẽ tôi đã thấy cha tôi mang
xác thằng bé, thấy những người khác đi theo ông, những con chó, nhưng
tôi không thể nào được phép đến gần tới mức nhìn thấy một thứ gì như bùn
trong lỗ mũi. Chắc là tôi đã được nghe ai đó kể lại và tự mình tưởng
tượng ra. Tôi nhìn thấy khuôn mặt của nó không thay đổi trừ những vết
bùn – khuôn mặt quen thuộc của thằng Steve, mặt nó nhọn, vẻ lém lỉnh –
và thật ra không thể nào như thế được; nó phải sưng phồng lên chứ, phải
biến dạng và dính bùn khắp nơi sau nhiều giờ ngâm trong nước.




Việc mang về một tin như thế, một bằng
chứng như thế, cho một gia đình mỏi mắt trông chờ, nhất là người mẹ,
khiến cho những người đi lùng kiếm đứa bé cử động nặng nề, nhưng điều
đang xảy ra ở đây còn tệ hại hơn nữa. Rõ ràng là có một nỗi xấu hổ (nghe
người ta nói thế) rằng thật ra chẳng có một người mẹ nào cả, chẳng có
một người phụ nữ nào hết – không bà nội không bà ngoại không cô không dì
không chị không em – đứng chờ thằng Steve và trao cho nó nỗi đau buồn
thương tiếc xứng đáng kia. Cha của Steve là một người làm công, hay uống
rượu nhưng không phải là kẻ say sưa, một người đàn ông được chăng hay
chớ nhưng không phải quá ham chơi, một kẻ không thân thiện mấy nhưng
không làm phiền ai. Mối tình phụ tử xem ra cũng ngẫu nhiên, và vì đứa bé
bị người mẹ ra đi bỏ lại, và hai cha con vẫn tiếp tục sống với nhau,
xem chừng càng có vẻ tình cờ. Họ sống trong ngôi nhà với mái nhọn lợp gỗ
xám ở xó núi quê mùa, trông chỉ khá hơn túp lều chút đỉnh – người cha
sửa chữa mái nhà và dựng những cái giá đỡ ở bên dưới, cũng vừa đủ thôi
và cũng đúng lúc cần thiết – và cuộc đời của hai cha con cũng dựa dẫm
vào nhau tương tự như thế; tức là cũng tốt vừa đủ để cho cơ quan can
thiệp vì quyền lợi của trẻ em không can dự vào gia đình của họ. Hai cha
con không ăn chung với nhau, không ai nấu cho ai, nhưng nhà vẫn có thức
ăn, đôi khi người cha cho con một ít tiền để mua thức ăn ở tiệm và người
ta thấy thằng Steve tới đó mua những thứ xem ra cũng cần thiết như bột
làm bánh hay bữa ăn tối kiểu bột mì có thịt.




Tôi biết rõ Steve Gauley. Tôi cũng thích
nó, nhưng phần nhiều là không thích. Steve lớn hơn tôi hai tuổi. Nó đến
chơi ở chỗ chúng tôi vào các ngày thứ bảy, ra vẻ coi khinh những trò
của tôi nhưng lại không thể bỏ mà đi được. Tôi cũng không thể ngồi lên
ghế xích đu mà không có nó khởi động và khi tôi có muốn bỏ cuộc nó liền
chạy tới đẩy một cái khiến tôi hoảng lên co rúm người lại. Nó chọc ghẹo
những con chó. Nó làm cho tôi phiền bực – có tính toán và rất quỷ quái,
sau này tôi nghĩ lại – bằng cách khiến tôi làm những việc mình không tự
nghĩ ra: đào khoai lên để xem chúng lớn cỡ nào khi còn nhỏ xíu, chất củi
lên thành đống để chúng tôi nhảy từ trên đó xuống. Ở trường chúng tôi
chẳng bao giờ nói chuyện với nhau. Steve cô độc nhưng không đau khổ.
Nhưng vào những buổi sáng thứ bảy, khi chợt nhìn thấy cái dáng của nó
điềm tĩnh, gầy gò, xuyên qua hàng rào dương liễu, tôi biết là tôi sắp
tham dự một điều gì đó và Steve sẽ quyết định điều ấy. Đôi khi chúng
cũng êm xuôi. Chúng tôi giả đò làm cao bồi huấn luyện những con ngựa
hoang. Chúng tôi chơi đùa trên cánh đồng cỏ gần bờ sông, không xa lắm
chỗ Steve bị chết đuối. Chúng tôi giả đò làm ngựa và kỵ sĩ, la hét, mang
dây nhợ, vung vẩy những ngọn roi làm bằng cây lá, ở trên bờ con sông
không tên chảy xuôi xuống vùng Saugeen ở phía Nam tỉnh Ontario.




Đám tang được tổ chức trong nhà chúng
tôi. Nhà của Steve không đủ chỗ cho đám đông đến dự bởi tình cảnh đặc
biệt. Tôi vẫn còn lưu giữ ký ức về căn phòng đầy người nhưng không nhớ
là có tấm hình nào của thằng Steve trên quan tài của nó hay có linh mục
nào đến làm lễ, hay có những tràng hoa được gởi đến. Tôi chỉ nhớ rằng
tôi cầm một bông hoa, loại thủy tiên màu trắng, chắc là ngắt từ chậu
bông ai đó đẩy vào cửa, vì lúc ấy chưa phải là mùa của liên kiều trổ
bông hoặc hoa huệ và cúc vạn thọ hay gặp trong rừng. Tôi đứng trong hàng
của những đứa trẻ, mỗi chúng tôi cầm một bông thủy tiên. Chúng tôi đồng
ca bài hát của trẻ con, có một người nào đó chơi đàn cương cầm: “Khi
Người Đến, Khi Người Đến, Làm Nên Châu Ngọc Rạng Ngời”. Tôi mang đôi tất
màu trắng, chúng ngứa kinh khủng, đầy những nếp nhăn ở đầu gối và mắt
cá chân. Cảm giác đối với những đôi tất này trên chân tôi lẫn lộn với
cảm giác trong ký ức của tôi. Thật khó diễn tả. Chắc là chúng có liên
quan gì đó tới cha mẹ tôi. Liên quan tới người lớn nói chung nhưng đặc
biệt là cha mẹ tôi? Cha tôi người là mang xác Steve từ bờ sông lên, và
mẹ tôi là người gần như đã làm tất cả các việc thu xếp cho tang lễ này.
Cha tôi trong bộ đồ vest màu xanh sậm và mẹ tôi trong chiếc áo đầm nhung
nâu với cái viền cổ sa-tanh kem. Họ đứng bên nhau mở miệng ra khép
miệng lại trong bài nguyện ca, và tôi đứng xa, giữa những đứa trẻ khác,
nhìn chăm chú. Tôi có cảm giác ghê tởm điên cuồng và đau đớn. Trẻ con
đôi khi có cảm giác bực bội căm ghét như thế đối với người lớn. Kích
thước, những cái bóng lổn nhổn, sức mạnh bồng bềnh. Hơi thở, sự thô ráp,
lông lá, sự chế tiết khó chịu. Nhưng còn hơn thế nữa. Và cơn giận đi
kèm chẳng có gì rõ ràng và đúng mức. Không có một việc gì làm thoải mái
hơn và cuối cùng tôi gập người lại nhặt một hòn đá ném về phía Steve.
Không thể nào hiểu được hay diễn tả được, mặc dù cảm giác ấy dần biến
thành một thứ nặng nề, thành mùi vị trên lưỡi, một mùi vị tình cờ –
loãng, đầy nghi hoặc hay quen thuộc.




Hai mươi năm sau hoặc lâu hơn nữa, năm
1961, chồng tôi, Andrew, và tôi mua được một chiếc xe mới toanh, cái xe
đầu tiên – tức là cái xe mới đầu tiên. Hiệu Morris Oxford, màu vỏ hàu
(người bán xe gọi nó bằng một cái tên thú vị hơn) – một chiếc xe loại
nhỏ khá bự, với nhiều chỗ ngồi đủ cho chúng tôi và hai đứa trẻ. Con bé
Cynthia lên sáu và Meg ba tuổi rưỡi.




Chồng tôi chụp một bức ảnh tôi đứng bên
xe hơi. Tôi mặc quần trắng, áo cổ cò màu đen, và mang kính râm. Tôi đứng
dựa vào cửa xe, nghiêng hông để làm mình gầy đi.




“Tuyệt vời,” chồng tôi nói. “Hay lắm. Nhìn em giống Jacky Kennedy.”




Thời ấy khắp nơi những phụ nữ trẻ tuổi,
tóc đen, mảnh mai, đều được bảo rằng, khi họ diện đồ sành điệu, hoặc khi
chụp hình, trông giống đệ nhất phu nhân Jacky Kennedy.




Andrew chụp nhiều hình cho tôi và những
đứa trẻ, nhà chúng tôi, khu vườn, đồ đạc, kỷ vật. Anh chụp hình, ghi chú
tỉ mỉ lên đó, gởi về cho mẹ của anh và dì của anh và cậu của anh ở
Ontario. Anh cũng đưa những bức hình để tôi gởi cho ba tôi, cũng đang
sống ở Ontario, và tôi cũng làm thế nhưng không đều đặn như anh. Khi
nhìn thấy những bức ảnh lẽ ra tôi phải gởi đi rồi hãy còn nằm lăn lóc,
Andrew bối rối bực bội lắm. Anh muốn những thứ kỷ vật này được chuyển đi
hết.




Mùa hè năm đó chúng tôi về thăm nhà
thật, chứ không phải chỉ những bức hình. Chúng tôi lái xe từ Vancouver,
nơi đang sinh sống, về Ontario, nơi chúng tôi cũng gọi là nhà, trên
chiếc xe hơi mới toanh. Năm ngày đi đường, mười ngày ở đó, năm ngày trở
về. Lần đầu tiên Andrew được nghỉ làm trong ba tuần lễ. Anh làm việc
trong bộ phận pháp luật của công ty thủy điện tỉnh bang British
Columbia.




Buổi sáng thứ bảy, chúng tôi mang vali,
hai bình thủy – một cà phê, một nước chanh đường – trái cây, bánh mì,
sách ảnh, vở tô màu, bút chì, giấy vẽ, thuốc diệt côn trùng, áo len
(phòng khi trời lạnh ở trong vùng núi), và hai đứa con gái của chúng tôi
lên xe hơi. Andrew khóa cửa lại và Cynthia nói kiểu cách: “Chào giã
biệt, nhà ta ơi”.




Meg nói: “Chào giã biệt, nhà” rồi nó nói thêm “Thế bây giờ chúng ta sống ở đâu?”




“Không phải chia tay mãi mãi,” Cynthia nói “Chúng mình sẽ trở về. Mẹ ơi! Con Meg nghĩ là chúng ta sẽ không bao giờ về đây nữa.”




“Em có nói thế đâu,” Meg bảo, lấy chân
đá vào sau lưng chiếc ghế ngồi của tôi. Andrew và tôi mang kính râm lên
và chúng tôi lái xe vượt qua cầu Sư tử xuyên qua cửa ngõ Vancouver.
Chúng tôi rũ bỏ ngôi nhà của mình, hàng xóm của mình, thành phố của
mình, và – ở biên giới giữa tiểu bang Washington và tỉnh British
Columbia – đất nước chúng tôi. Chúng tôi lái xe về phía Đông đi xuyên
qua nước Mỹ, dọc theo xa lộ cực Bắc, con đường này sẽ chạy trở vào
Canada lần nửa ở Sarnia, Ontario. Tôi không biết chúng tôi đã chọn con
đường này vì thời ấy quốc lộ xuyên Canada chưa xây dựng xong hay vì
chúng tôi muốn có cảm giác lái xe qua một nước khác, chỉ hơi khác một
chút thôi – một chút đỉnh của sự thú vị và phiêu lưu.




Ai cũng phấn chấn. Andrew khoái chí hoan
hô chiếc xe hơi nhiều lần. Anh nói anh thấy rõ là nó chạy ngon hơn
chiếc xe cũ của chúng tôi, một cái xe Austin đời 1951 bò chậm như rùa
khi lên dốc và mang hình ảnh một bà già rầu rĩ. Andrew bảo thế.




“Thế chiếc xe mới này có hình ảnh của
cái gì?” Cynthia hỏi. Nó lắng nghe chúng tôi chăm chú và thích tập nói
những chữ mới lạ như chữ hình ảnh. Thường nó nói cũng đúng.




“Sống động,” tôi bảo “Giống kiểu xe thể thao. Nhưng không khoe mẽ.”




“Nó tiện lợi, nhưng vẫn có đẳng cấp
riêng,” Andrew bảo. “Giống như hình ảnh của anh.” Cynthia ngẫm nghĩ về
điều ấy và nói với sự tự hào thận trọng “Thế nghĩa là giống như ba muốn
ba cũng y vậy, phải không ba?”




Tôi thật hạnh phúc vì cảm giác rũ bỏ.
Tôi muốn rũ bỏ hết. Trong ngôi nhà của mình dường như lúc nào tôi cũng
tìm chỗ để trốn – đôi khi trốn mấy đứa trẻ nhưng nhiều hơn là công việc
cần làm, tiếng điện thoại reo và giao thiệp với hàng xóm. Tôi muốn chạy
trốn, ẩn núp để có thể tập trung vào công việc thật sự của mình, một thứ
gì như gợi lại quá khứ xa xăm. Tôi đã sống trong tình trạng bị vây hãm,
khi nào cũng đánh mất một điều gì tôi đang giữ trong tay. Nhưng cuộc du
hành mới dễ dàng làm sao. Lúc này tôi có thể trò chuyện với chồng, với
các con và quan sát những điều chúng muốn tôi quan sát – một con lợn ở
trên bảng chỉ đường, một con ngựa non trên cánh đồng, một chiếc xe hơi
Volkswagen nằm trên xe tải lớn – và đổ ly nước vào những chiếc tách
nhựa, và những thứ này thứ kia bay hòa quyện trong nhau suốt ngày trong
tôi. Một sự kết hợp quan trọng mà tôi có thể đạt tới. Điều này làm tôi
đầy hy vọng, thấy tâm hồn thanh thản, nhẹ nhõm, mà một người quan sát
bàng quan mới làm được. Một người quan sát chứ không phải  một người
canh giữ.




Chúng tôi rẽ về phía Đông ở Everett và
vượt lên vùng Cascades. Tôi chỉ cho Cynthia lộ trình trên bản đồ. Trước
hết tôi chỉ cho con bé bản đồ của toàn nước Mỹ, đồng thời cũng thấy được
phần cực Nam của Canada. Tôi dở qua trang khác của cuốn bản đồ gồm
những tiểu bang mà chúng tôi đi qua. Washington, Idaho, Montana, North
Dakota, Minnesota, Wisconsin. Tôi chỉ cho Cynthia những vạch đứt quãng
xuyên hồ Michigan, cũng là đường của chuyến phà chúng tôi sẽ qua. Kế đó
chúng tôi sẽ lái xuyên Michigan đến cây cầu nối liền Hoa Kỳ và Canada ở
vùng Sarnia, Ontario. Về nhà.




Bé Meg cũng muốn nhìn.




“Mày đâu có hiểu gì,”Cynthia bảo. Nhưng nó cũng lôi tập bản đồ ra băng ghế sau.




“Ngồi xuống đi,” nó bảo em “Ngồi yên. Chị chỉ cho mà xem.”




Tôi có thể nghe tiếng động những ngón
tay Cynthia chỉ đường cho Meg rất chính xác, như tôi vừa mới làm với nó.
Nó coi hết bản đồ các tiểu bang, biết cách tìm chúng theo mẫu tự.




“Mày có biết cái vạch kẻ này là đường gì
không?” Cynthia hỏi. “Cái đó kêu bằng xa lộ. Đó là nơi mà chúng ta sẽ
lái xe đi. Chúng ta đang đi trên chính cái vạch này đây.”




Meg chẳng nói gì cả.




“Mẹ ơi, chỉ cho con chúng ta đang ở chỗ nào lúc này,” Cynthia nói.




Tôi lấy tấm bản đồ lên, chỉ con đường đi
xuyên qua núi, và nó lấy lại bày cho Meg. “Có thấy vạch kẻ này không,
nó rất là ngoằn nghoèo. Nó ngoằn nghoèo bởi vì có nhiều lối vòng quanh.
Những chỗ ngoằn nghoèo là những khúc quanh.” Nó lật một trang rồi chờ
một lát. “Bây giờ chỉ cho chị xem chúng ta đang ở đâu”. Rồi nó kêu lên
với tôi “Mẹ, Meg hiểu. Nó chỉ ra được cái chỗ đó. Meg cũng hiểu bản
đồ!”.




Đối với tôi có vẻ chúng ta bịa tạc ra
các phẩm chất của trẻ con. Chúng ta xếp đặt chúng sao cho mọi thứ vận
hành êm thắm. Cynthia thì sáng láng và cần cù, nhạy cảm, nhã nhặn, cẩn
thận. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn trêu đùa nó về việc quá chú ý, chuyên
tâm làm bằng được những điều thật ra thâm tâm chúng tôi cũng muốn. Bất
cứ cái gì chậm chạp, bị thất bại, bị cự tuyệt, đều làm nó xúc động sâu
xa. Con bé có mái tóc mượt, làn da đẹp nõn nà, nhưng dễ bị ăn nắng, dễ
ngấm mùi của gió, của lòng tự hào, của cả sự tủi hờn. Meg thì cứng rắn
hơn, kín đáo hơn – không nổi loạn nhưng đôi khi ương ngạnh, bí ẩn. Sự
lặng lẽ của nó gây cảm giác về sức mạnh của tính cách, trong khi sự ương
ngạnh lại là dấu hiệu của tính độc lập điềm tĩnh. Tóc nâu, và cắt thành
những lọn thẳng. Mắt vàng sẫm, trong veo, chói sáng.




Chúng tôi hài lòng với những tính cách
của con mình, thích thú với vẻ trái ngược nhau và vẻ xác định của từng
cá tính. Chúng tôi không thích lắm quan điểm nặng nề, bảo thủ của cha
mẹ. Tôi sợ cảm giác trở thành kiểu bà mẹ thân thể thì chảy xệ xuống,
người nặng mùi vải bông, mùi sữa, nghiêm khắc với ba chuyện vặt vãnh.
Tôi tin rằng tất cả những nỗi lo lắng quá mức của người mẹ, nhu cầu của
họ vác lên vai vai trò của mình, chính là nguyên nhân của chứng đau khóc
dạ đề ở trẻ con, chứng đái dầm, chứng hen suyễn. Tôi thích nuôi dạy con
kiểu khác – sự liều lĩnh đầy giễu cợt, tính chế nhạo của những bà mẹ có
trình độ chuyên môn thường viết bài cho các tạp chí. Trong các tạp chí
ấy, những đứa trẻ tự mình lớn lên, sắc cạnh, bất thường, không bị bẻ
gãy. Có những bà mẹ, với sự hóm hỉnh thông minh của họ, đã cứng cỏi được
như thế. Những người mẹ trong đời thật làm tôi thích thú là những người
có thể nhấc phone lên và thản nhiên nói, “Liệu cái bào thai Hitler của
tôi có vô tình chạy qua nhà chị không?” Họ có thể cười hăng hắc trên đám
sương mù đặc như sữa.




Tôi nhìn thấy một con nai chết cột trước chiếc xe tải nhỏ.




“Có ai đã bắn hạ nó,” Cynthia nói, “Những người thợ săn bắn mấy con nai.”




“Mùa săn đã tới đâu,” Andrew trả lời.
Chắc là họ tông phải nó trên đường. Con có thấy bảng báo hiệu vẽ nai
băng qua đường không?”




“Con sẽ khóc nếu chúng ta tông phải một con nai,” Cynthia nói nghiêm nghị.




Tôi làm những cái bánh mì kẹp với bơ,
đậu phụng, mứt cam và quýt cho mấy đứa trẻ và món cá hồi sốt cà chua cho
chúng tôi. Nhưng tôi không bỏ rau diếp xà lách vào và Andrew tỏ ra thất
vọng.




“Nhưng em chẳng có miếng nào,” tôi bảo.




“Thế em chẳng có cách nào kiếm được à?”




“Em đã mua cả một bó cải xà lách vừa đủ cho bánh mì xăng uých, nhưng rồi em nghĩ không cần.”




Thật ra tôi nói dối, tôi đã quên mất.




“Có rau diếp xà lách thì ngon hơn,” anh nói.




“Em thì thấy chẳng có gì khác nhau,” sau một hồi tôi nói. “Đừng có cáu kỉnh như thế chứ.”




“Anh không cáu, anh chỉ thích xà lách ở trong món bánh mì kẹp mà thôi.”




“Em chẳng nghĩ chuyện đó quan trọng chi.”




“Thế nếu anh quên đổ xăng thì sao?”




“Hai chuyện đó khác nhau chứ.”




“Thôi hãy hát một bài ca,” Cynthia bảo. Rồi nó bắt đầu hát.




Năm chú vịt nhỏ một ngày đi ra

Đi lên ngọn đồi và đi thật xa

Một chú vịt nhỏ đi qua và kêu

Quác quác quác

Bốn con vịt nhỏ lúc lắc quay về




Andrew siết chặt tay tôi, bảo “Thôi mình đừng cãi nhau nữa.”




“Anh nói đúng. Lẽ ra em cần phải mua cải xà lách.”




“Thôi chuyện đó có chi quan trọng đâu.”




Tôi ước gì tôi có thể hướng những cảm
giác về Andrew thành những cảm hứng có ích và đáng tin cậy. Tôi đã cố
gắng viết hai danh sách, một là những thứ mà tôi thích về anh, cái kia
là những thứ tôi không thích – trong đời sống thân mật vợ chồng có những
thứ tôi thích, những thứ tôi ghét – như thể tôi hy vọng rằng điều này
có thể mang lại một chứng minh nào đó, một kết luận nào đó. Nhưng rồi
tôi lại bỏ cuộc vì thấy những điều ấy tôi biết rồi – rằng tôi có nhiều
mâu thuẫn không sửa được. Đôi khi tiếng bước chân của anh ấy đối với tôi
cũng có vẻ độc tài chuyên chế, cái miệng của anh ấy cũng có vẻ bần tiện
và tự mãn, thân thể của anh cứng rắn thẳng thớm như một rào cản – một
cách đầy ý thức, đầy bổn phận, sự hài lòng đáng ghét của quyền lực đàn
ông – ở giữa tôi và niềm vui sướng hay nhẹ nhõm mà tôi có thể đạt được
trong đời mình. Thế rồi không hề báo trước anh bỗng trở thành người bạn
tốt, một người bạn đường quan trọng nhất trên đời. Tôi cảm nhận sự ngọt
ngào của thân xác thanh thản, ý tưởng nghiêm nghị, sự yếu đuối dễ vỡ của
tình yêu của anh, mà tôi hình dung ra là nó thuầm khiết hơn và trong
sáng chân thật hơn so với tình yêu của tôi. Tôi có thể khi thì xúc động
sâu xa vì sự cứng cỏi, tính khuôn phép đúng mức, khi thì chế nhạo chúng.
Tôi nghĩ chồng tôi thật là khiêm tốn khi đứng ngay ngắn vào vị trí  của
người chồng đã mặc định, vai trò của người cha, một người đi làm việc
mang tiền về, và khi tự so sánh với những người đàn ông như vậy, tôi
thấy mình là kẻ ích kỷ đáng ghét bí mật. Cũng không hẳn bí mật lắm,
không phải nhìn từ phía anh.




Từ dưới sâu xa những cuộc cãi lộn giữa
hai vợ chồng, chúng tôi lột hết những sự thật xấu xa nhất. “Anh biết có
một điều gì đó rất ích kỷ và rất giả dối ở nơi em,” Andrew có lần nói,
“Anh lúc nào cũng biết chuyện đó. Anh cũng biết rằng chính vì vậy mà anh
yêu em.”




“Đúng thế,” tôi trả lời. Cảm thấy đau buồn nhưng tự mãn.




“Anh biết rằng em sẽ sống tốt hơn nếu chẳng có anh.”




“Đúng, em có thể như thế đấy.”




“Mà anh cũng hạnh phúc hơn nếu không có em.”




“Đúng chứ.”




Và rồi cuối cùng – cuối cùng – xô đẩy
nhau, hành hạ nhau, chúng tôi lại vỗ tay và cười phá lên, cười vào mặt
những kẻ ngốc khờ kia, tức cũng là chúng tôi. Sự đau khổ của họ, sự nhớ
tiếc của họ, khả năng tự bào chữa cho mình của họ, chúng tôi đã vượt qua
những điều ấy, chúng tôi tuyên bố họ là những kẻ nói dối. Chúng tôi
uống rượu vang trong bữa tối hay quyết định tổ chức những bữa tiệc.




Đã nhiều năm tôi không gặp lại Andrew,
không biết anh còn giữ dáng người thanh mảnh, hay tóc anh đã bạc, vẫn
thói quen lúc nào cũng đòi ăn rau diếp xà lách, thích nói thật, hay vẫn
nồng nàn và thất vọng như xưa.




Chúng tôi qua đêm ở Wenatchee,
Washington, nơi nhiều tuần lễ không mưa. Chúng tôi ăn tối trong một nhà
hàng dựng bên thân cây- không phải cây ghép trong chậu mà cây bông gòn
mạnh mẽ cao lớn. Sáng sớm khi mặt trời mọc, chúng tôi lái xe ra khỏi
thung lũng có nước tưới, leo lên những ngọn đồi khô cằn, sỏi đá, dốc
đứng, mỗi ngày một thêm nhiều đồi cho đến khi tới một cao nguyên rộng
xuyên qua bởi sông Spokane và sông Columbia. Trung du và thảo nguyên,
dặm đường này đến dặm đường kia. Rồi có những con đường thẳng tắp, những
thị trấn nông trại nhỏ, những kho tồn trữ lúa mì. Một cái bảng trên
đường ghi rõ vùng chúng tôi đi vào, hạt Douglas, là nơi sản xuất lúa mì
lớn thứ hai ở Mỹ. Có những thị trấn trồng nhiều cây xanh bóng mát. Hoặc
ít ra tôi nghĩ chúng được trồng, bởi vì không thấy những cây lớn như thế
ở vùng quê lân cận.




Tất cả khung cảnh ấy chào đón tôi một
cách huy hoàng. “Vì sao em yêu chúng đến vậy?” Tôi bảo Andrew. “Chẳng
phải vì nó hấp dẫn hay sao?”




“Vì nó gợi nhớ tới quê nhà của em,” Andrew nói. “Một nỗi hoài hương khẩn trương bi thiết”.




Nhưng anh nói thế với giọng tử tế.




Khi nói đến chữ “quê nhà” và ám chỉ
Ontario, hai chúng tôi nghĩ đến những vùng khác nhau. Cố thổ của tôi là
một nông trại nuôi gà tây, nơi cha tôi sống như người đàn ông góa vợ, và
mặc dù đó là ngôi nhà mẹ tôi hằng sống, bà đã từng dán giấy lên tường,
sơn phết dọn dẹp, sắp đặt bàn ghế, vẫn thấy rõ dấu hiệu của điêu tàn,
của cuộc sống bắt đầu hoang dại. Một đời sống tiếp tục kiểu mà mẹ tôi
không thể đoán trước hay tha thứ. Có những buổi tiệc của những người thợ
làm gà tây, thợ máng nước, thợ nhổ lông gà, đôi khi có một hai chàng
trẻ tuổi sống tạm vài ngày như quán trọ, rủ rê bạn bè tới tiệc tùng vui
nhộn. Đời sống ấy, tôi nghĩ tốt hơn nhiều cho cha tôi so với cuộc sống
cô đơn lặng lẽ, mà tôi cũng không bài bác và chẳng có quyền gì để phê
phán. Andrew hoàn toàn không thích tới đó, cũng dễ hiểu thôi, bởi vì anh
không phải loại người có thể ngồi lòng vòng quanh bàn bếp với những
người thợ làm gà, kể chuyện chọc cười vui vẻ. Những người thợ ngượng
ngùng khi có mặt anh, cảm thấy như bị coi thường, và đối với tôi thì cha
tôi, những khi họ ở đó, cần đứng về phía họ. Và không chỉ Andrew là bực
bội. Tôi chịu được chuyện pha trò của đám thợ, nhưng cũng phải cố gắng
lắm.




Tôi ước những ngày nhỏ dại, trước khi
gia đình có trại gà tây. Trước đó chúng tôi nuôi bò sữa và bán sữa cho
hãng phô-mát. Trại gà không thể nào sánh được với trại nuôi bò hay nuôi
cừu. Bạn có thể thấy những con gà tây nằm trên một băng dài nối tới
những thùng đông lạnh và thịt chuẩn bị ăn được. Chúng không có vẻ giả
tạo của đời sống thanh bình trong trại gia súc, những con lợn trong vườn
cây râm mát. Chuồng gà là một dãy nhà dài, tiện lợi, làm bằng tôn.
Không có những cái túi hay cỏ hay chuồng. Ngay mùi phân gà tuy loãng hơn
nhưng lại khó chịu hơn phân bò. Không có một hình ảnh nào về cuộn cỏ,
hàng rào hay chim chóc ca hát hay bụi mận gai trổ bông. Những con gà tây
để đầy trên mặt đất nhưng chúng đã được rửa sạch. Chúng trông không
giống những con chim lớn mà giống một thứ đồ đem giặt biết đập cánh.




Một lần nọ, ít lâu sau khi mẹ tôi qua
đời và khi tôi đã lập gia đình – thực tế là tôi đã gói đồ đạc chuẩn bị
về ở với Andrew ở Vancouver – tôi ở lại nhà vài ngày với cha tôi. Trời
mưa lớn khác thường suốt đêm. Sáng sớm, trại nuôi gà ngập lụt. Ít nhất
là những chỗ thấp bị ngập nước- trông như cái hồ với những hòn đảo nhỏ.
Những con gà đứng xúm xít lại trên các hòn đảo ấy. Gà tây là thứ rất
ngốc. Cha tôi vẫn nói, “Con có biết gà không? Có biết chúng xuẩn ngốc cỡ
nào chưa? Vậy mà gà vẫn còn là Einstein nếu đem so với bọn gà tây này”.
Nhưng chúng vẫn biết tụ lại trên cao để tránh chết trôi. Bây giờ chúng
xô đẩy nhau đến ngạt thở, run lạnh và chết. Không thể chờ nước rút.
Chúng tôi kiếm chiếc xuồng cũ, tôi chèo còn cha tôi nắm những con gà lôi
chúng lên xuồng, mang chúng vào trại gia súc. Trời vẫn còn mưa lai rai.
Công việc thật vất vả, nhàm chán và khó chịu. Chúng tôi cười phá lên.
Tôi cảm thấy hạnh phúc có dịp làm việc với cha tôi. Tôi cảm thấy gần gũi
với thứ công việc nặng nhọc, lập đi lập lại, kinh khủng, khi thân xác
bạn rã rời, trí óc chìm nghỉm (dù đôi khi tinh thần khinh khoái), và
lòng tôi chưa chi đã nảy sinh mối hoài niệm lạ lùng về nơi chốn đây,
cuộc sống này, trong những ngày sắp tới. Tôi nghĩ là nếu Andrew nhìn
thấy tôi trong hoàn cảnh như thế, trong mưa, lòng bàn tay đỏ ửng lên,
người đầy bùn, vừa cố nắm chặt chân gà vừa chèo thuyền, chắc anh chỉ
muốn lôi tôi ra khỏi chỗ này và làm tôi quên bẵng đi mọi việc ở đây.
Cuộc sống thô sơ như nhiên này làm anh tức giận. Sự gắn bó của tôi với
nó càng làm anh giận dữ. Tôi nghĩ lẽ ra tôi không nên lấy anh. Nhưng lấy
ai bây giờ? Một trong những người thợ làm gà tây chăng?




Và tôi cũng không muốn ở đây lâu. Có lẽ tôi sẽ buồn khi bỏ đi, nhưng còn tệ hơn nếu có ai đó khiến tôi phải ở lại.




Mẹ của Andrew sống ở Toronto trong một
căn hộ chung cư nhìn ra công viên Muir. Khi Andrew và người chị của anh
còn ở nhà, mẹ họ ngủ ngoài phòng khách. Chồng của bà, một bác sĩ, qua
đời khi những đứa trẻ còn nhỏ dại chưa đến tuổi tới trường. Bà học một
khóa huấn luyện thư ký và bán căn nhà của mình với giá rẻ mạt, dọn vào
cư xá, nuôi dạy con cái tươm tất, với sự giúp đỡ của vài người thân-
người chị của bà tên Caroline, người anh rể tên Roger. Andrew và chị đi
học trường tư và đi cắm trại mùa hè.




“Thế mà em cứ tưởng là nhờ quỹ tương tế
xã hội kia chứ?” Có lần tôi bảo thế, chế nhạo anh về việc anh tự cho
mình là một người nghèo. Trong trí tôi, đời sống thành thị của Andrew an
toàn quá mức, cầu kỳ kiểu cách. Mẹ của anh về nhà ôm lấy đầu sau một
ngày làm việc đầy tiếng động, ánh sáng chói chang của văn phòng tiệm tạp
hóa, nhưng đối với tôi đời sống của bà không có gì khó khăn hay đáng
thán phục. Tôi không nghĩ bản thân bà tin rằng mình là một người đáng
thán phục – chỉ là không may mắn. Bà lo lắng về công việc của mình ở văn
phòng, quần áo, việc bếp núc, con cái. Bà lo âu gần như về tất cả những
gì mà Roger và Caroline có thể để mắt tới.




Caroline và Roger sống ở phía đông của
công viên, trong một ngôi nhà đá đẹp tuyệt. Roger cao, hói đầu, da mặt
tàn nhang, có cái bụng lớn nhưng rắn chắc. Cuộc giải phẫu ở vùng họng
làm ông nói giọng khó nghe – như tiếng thì thào thô ráp. Nhưng ai cũng
chú ý nghe cả. Có lần trong bữa ăn tối ở ngôi nhà bằng đá kia – tất cả
những bàn ghế đồ đạc trong phòng ăn đều lớn, màu tối lộng lẫy, nguy nga –
tôi hỏi anh một câu. Tôi nghĩ là có liên quan đến Whittakers Chambers,
câu chuyện của ông ta xuất hiện trên báo Bưu Điện Chiều Thứ Bảy.
Tôi hỏi nhẹ nhàng thôi nhưng anh nghĩ là có dụng ý khiêu khích và gọi
tôi là bà Gromyko, ý muốn nói người mà tôi cùng chia sẻ quan điểm. Có
thể anh cần một đối thủ nhưng chẳng tìm thấy ai. Trong bữa ăn tối, tôi
nhìn thấy tay của Andrew run lên khi anh bật lửa châm thuốc cho mẹ anh.
Dượng Roger trả tiền cho việc học hành cho Andrew, và có chân trong ban
giám đốc của một số công ty.




“Dượng ấy chỉ là một người có quan niệm ương bướng,” sau này Andrew bảo tôi. “Làm gì mà em cứ phải tranh cãi với ông?”




Trước khi chúng tôi rời Vancouver, mẹ của Andrew viết thư, Roger có vẻ tò mò về ý định của con muốn mua một cái xe hơi loại nhỏ!
Dấu chấm than của bà diễn tả lo ngại. Vào thời đó, đặc biệt là ở
Ontario, việc mua một chiếc xe hơi nhỏ kiểu châu Âu thay vì xe Mỹ cỡ bự
trông như là một bản tuyên bố – một tuyên bố về lập trường mà Roger đánh
hơi được từ lâu.




“Nhưng xe này không thuộc loại xe nhỏ,” Andrew nói bực bội.




“Đó không phải là điểm chính,” tôi bảo anh. “Điểm chính là, mắc mớ chi tới dượng ấy!”.




Chúng tôi qua đêm thứ hai ở Missoula.
Người ta bảo chúng tôi trong một trạm đổ xăng ở Spokane, là có chỗ sửa
chữa xe cộ phụ tùng dọc theo tuyến đường cao tốc số 2 và chúng tôi đã
lái qua những dặm đường nóng nực đầy bụi bặm, những thời gian chờ đợi
rất dài, vì vậy chúng tôi rẽ về xa lộ liên tỉnh, băng qua Coeur d’Alene
và Kellogg để vào Montana. Qua khỏi Missoula chúng tôi hướng lên phía
nam về phía Butte, nhưng rồi vòng lại để thăm Helena, thủ phủ của tiểu
bang Montana. Trên xe hơi chúng tôi chơi trò Tôi Là Ai?




Cynthia đóng vai một người Mỹ, một người
đã chết, và có thể là bé gái. Có thể một phụ nữ. Cô ấy không có mặt
trong câu chuyện. Cô không hề xuất hiện trên tivi. Cynthia cũng không
đọc gì về cô ta trong sách. Cô không phải là người đã từng tới thăm lớp
mẫu giáo hay bà con gì của bạn bè của Cynthia.




“Cô ta có phải là người không?” Andrew hỏi một cách tinh ý đột ngột.




“Không! Đó là thứ mọi người quên hỏi!”




“Một con vật,” Tôi nói sau khi đã suy nghĩ.




“Có phải đó là một câu hỏi không? Có mười sáu câu hỏi!”




“Không, đó không phải là một câu hỏi. Mẹ đang suy nghĩ. Một con vật đã chết.”




“Đó là con nai,” Meg nói, nhưng nó không phải là người chơi.




“Không công bằng!” Cynthia nói. “Meg không chơi.”




“Con nai nào?” Andrew nói.




Tôi bảo, “Ngày hôm qua”




“Ngày hôm trước,” Cynthia nói. “Meg không chơi. Không ai đoán được.”




“Con nai trên xe tải,” Andrew bảo.




“Đó là một con nai cái, vì nó không có gạc, và đó là một con nai Mỹ, và nó đã chết rồi,” Cynthia bảo.




Andrew nói, “Cha nghĩ đó là ý tưởng bệnh hoạn, đóng vai một con nai chết.”




“Con hiểu rồi,” Meg nói.




Cynthia bảo, “Con nghĩ con biết bệnh hoạn nghĩa là gì. Đó là một thứ sầu muộn.”




Helena, một thị trấn khai mỏ bạc cũ,
trông hoang vắng ngay trong ánh nắng bình minh. Rồi đến Bozeman và
Billings, không tiêu điều chút nào –sống động mạnh mẽ với nhiều dặm dài
lóng lánh kim tuyến của bãi bán xe hơi cũ. Chúng tôi mệt lử và cảm thấy
nóng ngay cả khi chơi trò Tôi Là Ai? Những thành phố bận rộn và tẻ nhạt
nhắc tôi nhớ tới những địa điểm khác ở Ontario, và tôi sực nghĩ, điều gì
thực ra đang chờ đợi mình ở đó – những đồ đạc bia đá trong phòng ăn của
dì dượng Caroline và Roger, những bữa ăn tối khiến tôi phải ủi những bộ
trang phục của trẻ con, nhắc chúng về những cái nĩa và một cái bàn ăn
khác một trăm dặm xa, những trêu đùa chọc ghẹo của đám thợ làm gà tây
của cha tôi. Niềm vui thú tôi hằng nghĩ tới – thả mắt nhìn ra xa vùng
quê êm ả hay uống một chai Coke trong tiệm tạp hoá cũ với những cây quạt
trần và mái tôn cao – đã bị những thứ ấy giựt phăng mất.




“Meg buồn ngủ,” Cynthia nói. “Nó nóng quá. Làm con ngồi gần cũng nóng lây.”




“Mẹ hy vọng là nó không bị sốt,” tôi bảo, không ngoảnh lại.




Chúng tôi làm những chuyện này vì cái
gì, tôi nghĩ thầm, và câu trả lời đến ngay – để khoe thôi. Để cho mẹ của
Andrew và cha tôi niềm vui gặp cháu của họ. Đó là bổn phận. Nhưng đằng
sau cái đó chúng tôi còn muốn khoe một điều gì khác nữa. Thực là những
đứa trẻ hăm hở biết bao, tôi và Andrew, những kẻ lúc nào cũng đi tìm sự
tán đồng ở người khác. Như thể vào một lúc nào đó ở một điểm nào đó
chúng tôi đã nhận được những thông điệp khó nuốt không thể nào quên –
rằng chúng tôi đã đi quá xa, và rằng sự thành công thông thường trong
đời đã ở sau lưng chúng tôi quá lâu. Dượng Roger đã phát đi những thông
điệp ấy, tất nhiên theo cách của ông – nhưng mẹ của Andrew, mẹ tôi và
cha tôi, cũng không ai khác biết cách phát đi thông điệp. Tất cả họ đều
muốn nói với chúng tôi rằng “ Cẩn thận đấy, phải hoà hợp với mọi người
thôi”. Cha tôi khi tôi còn ở trung học đã từng chế nhạo rằng tôi nghĩ
mình quá thông minh nên chắc không bao giờ có một đứa bạn trai. Rồi ông
quên bẵng điều ông nói trong một tuần, nhưng tôi thì không bao giờ quên.
Andrew và tôi không quên điều gì cả. Chúng tôi dễ bị tổn thương.




“Con ước có một bãi biển,” Cynthia nói.




“Có lẽ có một cái,” Andrew bảo. “Ngay phía sau đường lượn vòng.”




“Không có đường vòng nào cả,” Cynthia bảo, giống như tức tối.




“Mẹ cũng muốn nói thế đấy.”




“Con ước gì có một ly chanh đường.”




“Mẹ thì muốn có cây đũa thần và biến
phép một ly chanh đường,” tôi nói. “Được thôi, Cynthia? Hay là một ly
nước nho vắt? Rồi mẹ hoá phép một bãi biển ở đó nữa”




Cynthia im lặng và tôi cảm thấy hối hận
ngay. “Có thể trong thị trấn trước mặt sẽ có một bể bơi,” tôi nói. Tôi
nhìn bản đồ. “Ở thị trấn Miles City. Dù sao chúng ta sẽ có một thứ gì đó
mát để uống.”




“Xa hay gần hả em?” Andrew hỏi.




“Không xa lắm đâu,” tôi nói, “Ba mươi dặm, cỡ đó.”




“Ở thị trấn Miles City,” Cynthia nói,
giọng trầm xuống như đang niệm chú, “sẽ có một bể bơi xanh ngắt đẹp
tuyệt dành cho trẻ con và một công viên cây cối mơ màng.”




Andrew bảo tôi, “Em có thể bắt đầu vài thứ em thích”.




Nhưng quả thật có một bể bơi. Một công
viên nữa, mặc dù nó không giống ốc đảo trong mơ của Cynthia. Những cây
cối thảo nguyên có lá mỏng – cây bông gòn và cây dương – cỏ uá, và hàng
rào thép bao quanh bể tắm. Bên trong hàng rào ấy, một bức tường chưa xây
xong gồm những tấm xi măng ghép. Không có tiếng cười đùa, tiếng giỡn
nước; xuyên qua lối vào tôi nhìn thấy tấm bảng ghi bể bơi tạm đóng cửa
từ mười hai giờ trưa đến hai giờ chiều. Lúc đó là mười hai giờ hai mươi
lăm phút.




Nhưng tôi vẫn gọi, “Có ai đó không?” tôi
nghĩ có người quanh đây, vì một chiếc xe tải nhỏ đỗ trên lối vào. Trên
thành xe có tấm bảng ghi:  Chúng tôi có mưu lược để sửa chữa ống nước. (Chúng tôi cũng có dịch vụ hút cầu Roto- Rooter).




Một cô gái chạy ra, mặc áo cứu hộ màu đỏ bên ngoài bộ đồ tắm. “Xin lỗi, chúng tôi đóng cửa.”




“Chúng tôi vừa lái xe ngang qua,” tôi nói.




“Chúng tôi đóng cửa mỗi ngày từ mười hai giờ trưa đến hai giờ chiều. Trên bảng có ghi rõ.” Cô ta đang ăn bánh mì xăng uých.




“Tôi có thấy tấm bảng,” tôi nói. “Nhưng
đây là nơi đầu tiên có nước tắm rửa sau nhiều ngày đường, mà các cháu
thì nóng nực quá sức, và tôi mong chúng có thể nhảy ùm xuống nước một
lát- chỉ năm phút thôi mà. Chúng tôi sẽ canh chừng chúng.’




Mộ cậu trai trẻ xuất hiện sau lưng cô gái. Chàng trai mang quần jeans và áo thun in hàng chữ Roto- Rooter.




Tôi định kể chúng tôi đi từ British
Columbia đến Ontario nhưng chợt nhớ đối với nhiều người Mỹ mấy cái địa
danh Canada này chẳng gợi lên điều gì nên thôi.”Chúng tôi lái xe xuyên
liên bang,” tôi nói. “Chúng tôi không có thời giờ để chờ bể bơi mở cửa.
Chỉ hy vọng là các cháu có cái gì tắm mát một chút.”




Cynthia chạy chân không tới đằng sau
tôi.”Mẹ. Mẹ ơi, bộ đồ tắm của con đâu?” Rồi nó dừng lại, nhận ra tính
nghiêm trọng trong cuộc thương lượng của hai chúng tôi. Meg đang trèo ra
khỏi xe hơi- vừa thức giấc, áo kéo lên đầu, quần tụt xuống bẹn, bày cái
bụng hồng hồng.




“Chỉ có hai đứa bé này thôi à?” cô gái hỏi.




” Chỉ hai cháu này thôi. Chúng tôi sẽ canh chừng chúng ạ.”




“Tôi không thể cho người lớn vào đây.
Nếu chỉ có hai đứa, tôi nghĩ tôi có thể coi được. Tôi đang ăn trưa.” Cô
ta hỏi Cynthia, ” Cháu có muốn xuống hồ bơi không?”




“Dạ có ạ,” Cynthia trả lời rõ ràng.




Meg nhìn xuống đất.




“Chỉ một lát thôi, vì hồ bơi đã đóng cửa,” tôi nói.” Chúng tôi thực cám ơn cô lắm lắm,” tôi bảo cô gái.




“Thôi vậy, tôi có thể ăn trưa ngoài ấy,
nếu chỉ có hai cô bé này.” Cô nhìn ra xe chúng tôi như thể  bỗng dưng
tôi có thể lôi ra thêm vài đứa trẻ nữa.




Khi tôi tìm ra bộ đồ tắm của Cynthia, nó
mang ngay vào phòng thay đồ. Nó không muốn ai, ngay cả Meg, nhìn thấy
nó ở truồng. Tôi thay đồ cho Meg, nó đứng trên ghế trước trong xe. Nó có
bộ đồ tắm bằng vải hồng với dây buộc và nút cài. Có giải rút ở đũng
quần.




“Người cháu nóng lắm,” tôi nói.” Nhưng tôi nghĩ không phải bị sốt đâu.”




Tôi thích giúp Meg mặc hay cởi áo quần,
vì cơ thể nó còn chưa tự ý thức về mình, với tính thờ ơ ngọt ngào, một
cái gì như mùi sữa, của trẻ sơ sinh. Cơ thể của Cynthia thì từ lâu đã
được gọt giũa, tạo hình và thay đổi, để trở thành chính Cynthia. Ai
cũng  muốn hôn lấy hôn để, quệt mặt vào người Meg. Đôi khi nó nhăn nhó
bực bội, đánh lại chúng tôi, và tính tự lập quyết liệt, sự ngượng ngùng
giận dữ này, càng làm nó thêm hấp dẫn, khiến người ta cứ muốn ôm nghiến
lấy, thọc lét, kiểu người thân trong nhà.




Andrew và tôi ngồi trong xe hơi, cửa
kính hạ xuống. Tôi nghe được tiếng nhạc vẳng ra từ radio và nghĩ đó là
máy của cô gái hay bạn trai cô ta.Tôi khát quá, ra kỏi xe, tìm một chỗ
mát mẻ, hay một cái máy bán thức uống, đâu đó trong công viên. Tôi mang
quần đùi và sau hai bắp chân ướt lẫm mồ hôi. Tôi thấy một vòi nước uống
bên kia công viên và đi tới đó bằng lối vòng dưới bóng hàng cây. Không
có gì là có thật cả cho đến khi bạn bước ra khỏi xe. Lừ đừ vì nóng, vì
mặt trời trên các ngôi nhà bỏng rộp lửa, hè đường, cỏ cháy, tôi bước đi
chậm chạp. Tôi chú ý đến một chiếc lá bị dẫm nát, bóp vụn một que khuấy
cà phê dưới gót giày, nheo mắt nhìn thùng rác cột vào thân cây. Đó là
cách bạn quan sát những vật hèn mọn nhất bỗng trồi lên bề mặt thế giới,
sau khi bạn đã lái xe đi thật lâu- bạn cảm nhận được tính chất riêng
biệt của chúng, nơi cư ngụ chính xác và nỗi trùng hợp tình cờ đáng
thương của việc bạn cũng có mặt nơi đây để nhìn ngắm chúng.




Những đứa trẻ đâu rồi?




Tôi xoay người lại, bước rất mau, không
hẳn là chạy, tới bên một đoạn hàng rào nơi bức tường bên trong chưa xây
xong. Từ đây tôi có thể nhìn thấy hồ bơi. Tôi thấy Cynthia, đứng ngâm
mình trong nước ngang thắt lưng, vung tay đập nước và chăm chăm nhìn một
vật gì phía cuối hồ bơi, nhưng tôi không thấy được. Căn cứ vào dáng
đứng của nó, sự chăm chú, vẻ mặt, tôi nghĩ nó đang coi mấy trò của cô
gái cứu hộ và gã bồ cô ta. Tôi không thấy Meg. Nhưng tôi nghĩ nó đang
chơi ở chỗ nước cạn- cả hai đầu nước cạn và nước sâu tôi đều không nhìn
thấy.




“Cynthia!” Tôi phải gọi hai lần con bé mới nhìn ra chỗ đứng của tôi.”Cynthia! Meg đâu rồi?”




Có vẻ Cynthia, bất cứ khi nào tôi nhớ
lại cảnh này, quay mình duyên dáng về phía tôi, rồi xoay cả người trong
nước- làm tôi nghĩ tới một vũ điệu ba lê – và dang tay ra như đứng trên
sân khấu. “B- i- ế- n- m- ấ- t!”




Cynthia vốn có tính duyên dáng tự nhiên,
mà con bé lại học múa, vì thế những động tác này có thể đã xảy ra đúng
như thế thật. Nó quả thật có nói “Biến mất!” sau khi đã nhìn quanh mặt
hồ một lượt, nhưng điệu bộ và cách nói giả tạo này, cái kiểu không hề
khẩn trương chi, thì chắc là do sự tưởng tượng thêm của tôi. Nỗi sợ hãi
xâm chiếm lập tức khi không tìm thấy con bé Meg- ngay cả khi tôi tự bảo
mình có lẽ nó đứng phía nước cạn- đã là nguyên cớ khiến những cử chỉ của
Cythia trở nên quá chậm chạp, quá vô lý đối với tôi, và giọng điệu của
chữ “Biến mất” ngay trước khi hàm ý của nó kịp xuất hiện (hay là con bé
che giấu, ngay tức thì, cảm giác tội lỗi của nó?) trở nên một lời nói
ích kỷ không chịu nổi.




Tôi la lớn lên gọi Andrew, và cô gái coi hồ bơi lập tức xuất hiện. Cô chỉ tay về phía vùng nước sâu và nói, “Cái gì kia kìa?”




Ở đó, ngay trước mắt tôi, một nhúm giải
rút hồng hồng phồng lên, trông như một bó hoa, ngay dưới làn nước. Làm
sao một nhân viên cứu nạn lại có thể đứng dừng lại và chỉ tay, sao cô ta
lại có thể hỏi như thế, sao không nhảy ùm xuống nước và bơi về phía ấy?
Cô ta không bơi; mà chạy dọc bờ nước. Nhưng lúc ấy Andrew đã leo lên
hàng rào. Bao nhiêu thứ xảy ra không thể giải thích chút nào- cử chỉ của
Cynthia rồi đến điệu bộ của cô nhân viên cứu nạn- và bây giờ tôi lại có
cảm giác rằng Andrew nhảy phóc một cái đã qua được hàng rào cao bảy bộ.
Chắc anh phải trèo nhanh lắm, túm chặt hàng rào dây thép.




Tôi không thể nhảy hay leo gì cả, tôi
chạy về phía lối vào, ở đó có một cái cổng kiểu mắt cáo, khoá chặt. Cái
cổng không cao lắm, và tôi đu người trèo qua. Tôi chạy dọc theo hành
lang xi măng, tới sát mép nước.




Bi kịch kết thúc.




Andrew nắm được Meg đầu tiên, và kéo nó
lên khỏi mặt nước. Anh chỉ cần vươn tay ra là nắm lấy nó, vì Meg phần
nào đang tự bơi, nhưng đầu đã hụp sâu trong nước – nó lặn ngụp về phía
thành hồ tắm. Anh bồng nó đi, và cô cứu hộ bước nhanh phía sau. Cynthia
vừa trèo ra khỏi nước và chạy về phía họ. Chỉ một người thờ ơ với toàn
bộ sự việc là gã bạn trai của cô nhân viên, cứ ngồi trên ghế dài phía
nước cạn, uống một thứ nước pha sữa. Anh ta còn mỉm cười với tôi, và tôi
nghĩ thật kẻ là vô cảm, mặc dù nguy hiểm đã qua. Cũng có thể anh ta có
hảo ý. Tôi để ý thấy anh ta không tắt radio đi, chỉ vặn nhỏ xuống.




Meg không uống nước đầy bụng. Con bé thậm chí chưa kịp sợ hãi. Tóc dính bết vào đầu và mắt mở to, vàng long lanh.




” Con muốn xuống lấy cái lược,” nó nói.”Con không biết nước sâu thế.”




Andrew nói,”Meg vẫn tự bơi! Nó bơi mình nó. Anh thấy bộ đồ tắm của con trong nước rồi anh thấy nó bơi”




“Nó sắp chìm nghỉm luôn rồi,” Cynthia nói. “Không phải vậy sao? Meg sắp chết đuối.”




“Tôi không biết mọi chuyện có thể xảy ra
như thế.” Cô cứu hộ nói. “Con bé vừa mới ở chỗ này, chỉ một thoáng đã
không còn đó nữa.”




Chuyện xảy ra là Meg đã lên khỏi nước ở
phía nước cạn và chạy dọc theo bể bơi đến đầu kia, chỗ nước sâu. Nó thấy
một cái lược người nào đánh rơi dưới đáy. Nó khom người cúi thật sát để
lượm cái lược lên, tưởng là nước không sâu. Nó chồm người lên nữa và
trượt chân xuống hồ, rơi bõm một cái nhưng không ai nghe được tiếng
động- kể cả cô gái cứu hộ, đang bận hôn anh bồ của mình, hoặc Cynthia
đang đứng mãi nhìn hai người. Đó đúng là lúc khi tôi đứng dưới bóng cây
và chợt nghĩ, Bọn trẻ đang ở đâu vậy? Đó cũng là lúc, Meg trượt chân,
lấy làm ngạc nhiên, xuống làn nước trong xanh dễ đánh lừa người ta.




“Mọi chuyện ổn rồi,” tôi bảo cô nhân
viên, lúc ấy gần sắp khóc. “Con bé bơi rất nhanh.” (Mặc dù thường chúng
tôi không nói về Meg như thế. Chúng tôi nói nó ngẫm nghĩ mọi chuyện
trước đã rồi mới thong thả làm.)




“Em đã bơi, Meg”, Cynthia nói, kiểu như chúc mừng. (Sau này nó kể cho chúng tôi nghe về việc hai người kia hôn nhau.)




“Con không biết là nước sâu thế,” Meg bảo. “Con đã không bị chết đuối.”




Chúng tôi ăn trưa ở một tiệm bán thức ăn
mang đi, có bánh mì kẹp thịt heo hamburger và khoai tây chiên, ngồi
quanh một cái bàn ngoài trời không xa lắm xa lộ cao tốc. Quá vui mừng,
tôi quên bẵng mua cho Meg một cái bánh mì kẹp không mùi, và phải cạo bỏ
dưa và mù tạt bằng muỗng nhựa, rồi lau miếng thịt với tấm giấy chùi
miệng, trước khi đưa cho con bé ăn. Tôi lợi dụng cái thùng rác gần đó để
lau chùi xe hơi. Rồi chúng tôi lại lên đường lái xe về phương Đông, cửa
kính xe hơi phía trước mở hết ra. Cynthia và Meg ngủ thiếp đi trên băng
ghế sau.




Andrew và tôi thầm thì trò chuyện về
những điều vừa xảy ra. Giả sử tôi không linh cảm vụt chạy đi tìm những
đứa trẻ vào lúc ấy? Giả sử chúng tôi đi vào thành phố để uống một cái
gì, như dự định ban đầu thì sao? Làm thế nào Andrew có thể nhảy qua hàng
rào? Anh ấy trèo lên hay thực sự đã nhảy qua? (Anh không thể nào nhớ
nổi.) Làm cách nào anh đã chạy tới và chụp lấy Meg nhanh đến thế? Và
nghĩ đến chuyện cô nhân viên cứu hộ không hề nhìn nhỏi gì đến con bé.
Rồi Cynthia đứng trân trân nhìn hai người kia hôn hít nhau. Nó chẳng
nhìn thấy gì khác nữa. Không nhìn thấy Meg rơi khỏi mép nước.




Biến mất.




Nhưng nó còn bơi. Nó nín thở và tiếp tục bơi.




Một chuỗi những biến cố may mắn.




Đó là tất cả những gì chúng tôi trò
chuyện- may mắn. Nhưng tôi không thể ngừng mà không nghĩ đến chuyện tệ
hại xảy ra theo hướng ngược lại. Vào lúc này đây, chúng tôi đã có thể
phải ngồi điền những tờ đơn khai báo. Người ta mang Meg khỏi vòng tay
của chúng tôi, cơ thể nó được quấn lại chuẩn bị chở đi xa. Về lại
Vancouver- nơi chúng tôi chẳng bao giờ lưu ý đến một thứ gì như là nghĩa
địa- hay tới Ontario? Những bức tranh nguệch ngoạc mà Meg vẽ sáng nay
chắc vẫn còn nằm lại trên ghế ngồi của nó sau xe. Làm thế nào tất cả
những điều này có thể chịu đựng được, làm sao con người có thể đương đầu
nổi với những câu chuyện như thế? Đôi vai và hai bàn tay và hai bàn
chân ngọt ngào, tròn trịa, mái tóc nâu óng ả, vẻ mặt hài lòng và bí ẩn –
tất cả đều giống hệt như lúc nó còn sống. Một bi kịch hết sức đời
thường. Một đứa trẻ chết trôi trong một bể bơi vào buổi trưa một ngày
mùa hạ sáng lòa. Mọi việc sẽ thu gọn lại mau chóng. Hồ bơi sẽ mở cửa lại
lúc hai giờ chiều. Cô nhân viện cứu hộ sẽ run rẩy một lúc và xin phép
nghỉ việc chiều hôm đó. Cô sẽ lái xe ra đi cùng với người tình trên
chiếc xe tải nhỏ hút cầu Roto-Rooter. Cái xác của đứa bé sẽ được khâm
liệm trong chiếc quan tài nhỏ để chở đi. Thuốc an thần, những cuộc gọi
điện thoại, những thu xếp này nọ. Sự trống rỗng bỗng nhiên ập tới, nỗi
chìm khuất và dịch chuyển mù tối. Thức giấc choáng váng vì thuốc ngủ và
an thần, trong một lát chợt nghĩ thầm ồ đó là điều không thật. Rồi nghĩ
rằng giá như chúng tôi không dừng lại bên đường, giá như chúng tôi đừng
đi con đường này, giá như họ không cho phép chúng tôi dùng bể bơi. Có lẽ
sẽ không một người nào biết gì về cái lược im lặng nằm dưới đáy hồ kia.




Có một điều gì đó tồi tệ đối với trí
tưởng tượng kiểu này, phải không? Một điều gì như sự xấu hổ. Đặt ngón
tay của bạn lên hàng rào thép gai, nhận một cú sốc điện, biết được cảm
giác ấy thế nào, rồi giựt tay lại. Tôi tin là Andrew còn tỉ mỉ hơn tôi
về những điều này, và vào lúc ấy anh cố tình nghĩ đến việc khác.




Khi đứng tách khỏi cha mẹ tôi trong tang
lễ của Steve Gauley và quan sát họ, tôi đã bắt gặp cảm giác mới mẻ này,
không thoải mái chút nào về họ, tôi nghĩ rằng tôi bắt đầu thấu hiểu một
điều gì đó về cha mẹ, lần đầu tiên trong đời. Một điều gì nghiêm trọng
chết người. Tôi hiểu ra rằng họ có dính líu tới tai nạn này. Thân thể
cao lớn, cứng nhắc, trong y phục nghiêm trang, vẫn không thể nào chắn
ngang giữa tôi và cái chết đột ngột kia, hoặc bất kỳ một cái chết nào
khác. Họ đã tán thành tai nạn ấy. Có vẻ như vậy. Họ đã cho phép cái chết
của những đứa trẻ và cái chết của tôi nữa, xảy ra, không phải bởi lời
nói hay hành động của họ, mà bởi vì chính họ đã sinh ra những đứa trẻ ấy
trên đời – họ đã sinh ra tôi. Họ đã tạo ra tôi, và vì lý do đó cái chết
của tôi – bất kể họ khóc thương thế nào, bất kỳ họ chịu đựng ra sao –
đối với họ cũng đều không phải là thứ không tự nhiên hay không thể xảy
ra được. Đó là một điều có thật, dù ngay lúc ấy tôi cũng biết rằng thật
ra họ không đáng trách.




Nhưng tôi đã trách họ. Tôi đã buộc tội
họ về sự trơ tráo, thói đạo đức giả. Thay mặt cho Steve Gauley, cho tất
cả những đứa trẻ khác, những kẻ biết rằng chúng có quyền vươn thẳng lên
tự do, được sống cuộc đời mới, tuyệt diệu, không bị mắc vào những cái
bẫy của người lớn với đời sống thất bại, tình dục và các tang lễ của họ.




Steve đã chết đuối, người ta bảo thế,
bởi vì nó gần như là một đứa trẻ mồ côi và được phép rong chơi tự do tha
hồ. Nếu nó được nhắc nhở kịp thời, giao cho công kia việc nọ để làm,
được giám sát kỹ càng, nó đã không thể nào tuột tay từ một cành cây mỏng
mảnh không đáng tin cậy chút nào mà rơi xuống ao nước mùa xuân, rơi vào
một cái hố đào sỏi gần bờ sông – nó đã không chết đuối. Nó đã bị bỏ
rơi, nó đã được thả rong tự do, và nó đã chết. Và cha nó vẫn thấy đó là
một tai nạn, như thứ có thể xảy ra cho một con chó. Ông ta không có cả
một bồ đồ lễ tử tế để mặc trong ngày đám tang của con, cũng không cúi
đầu khi cầu nguyện. Nhưng ông ta là người lớn duy nhất mà tôi không thèm
trách cứ. Ông ta là người duy nhất mà tôi không thấy rõ sự tán thành.
Ông ta đã không thể ngăn ngừa một điều gì, nhưng ông ta cũng không dính
líu đến tai nạn – không giống như những người lớn khác trong khi cầu
nguyện lời Chúa với giọng trầm trọng không mấy tự nhiên, làm rỉ ra thứ
tín ngưỡng và thứ mất danh dự đáng hổ thẹn.




Khi tới vùng Glendive, không xa biên
giới North Dakota, chúng tôi có một chọn lựa – hoặc là tiếp tục đi theo
xa lộ liên tỉnh, hoặc là hướng về Đông Bắc, phía Williston, rẽ vào đường
số 16, vài đường khác, và trở lại với xa lộ cao tốc số 2.




Hai chúng tôi đồng ý rằng đường liên
tỉnh thì nhanh hơn, và quan trọng nhất là không nên chạy xe quá nhiều–
tức là xài tiền –trên đường. Cuối cùng chúng tôi quyết định rẽ vào xa lộ
số 2.




“Em thích thế hơn,” tôi nói.




Andrew bảo, “Đó là vì chúng ta đã định như thế từ đầu.”




“Chúng ta sẽ không được gặp Kalispell và Havre. Và Wolf Point nữa. Em thích cái tên đó.”




“Chúng ta sẽ gặp chúng trên đường trở về nhà.”




Andrew nói câu “trở về nhà” với một vẻ
vui sướng đáng ngạc nhiên đối với tôi. Tất nhiên tôi hoàn toàn nghĩ rằng
chúng tôi sẽ quay về nhà sau chuyến đi, với chiếc xe của chúng tôi và
cuộc đời của chúng tôi và gia đình của chúng tôi nguyên vẹn, sau đi đã
đi qua biết bao dặm đường, đã trải qua biết bao chuyện trung thành và
rắc rối, xích lại gần nhau hơn, nhìn xuống con đường liều lĩnh của mình.
Nhưng vẫn thật là an ủi khi nghe anh ấy nói thế.




“Điều anh không thể nào hiểu được,”
Andrew nói, “là làm sao em nhận được tín hiệu ấy. Phải là một thứ linh
cảm mà chỉ những người mẹ mới có.”




Phần nào tôi cũng muốn tin thế thật, tự
sưởi ấm mình trong khả năng linh cảm ngoại cảm kia. Phần khác tôi muốn
cảnh báo Andrew – cảnh báo tất cả mọi người – đừng bao giờ dựa dẫm vào
những thứ ấy.




“Điều mà em không hiểu,” tôi nói “là làm sao anh có thể nhảy qua hàng rào.”




“Anh cũng đâu có biết.”




Chúng tôi tiếp tục trò chuyện như thế,
với hai đứa trẻ trên băng ghế sau, đặt hết tin tưởng vào chúng tôi, bởi
chúng cũng chẳng có chọn lựa nào khác, và chúng tôi thì tin rằng mình sẽ
được tha thứ, cùng với thời gian, về tất cả những điều mà trẻ con nhìn
thấy và lên án trước tiên: bất cứ điều gì vô cảm, tùy tiện, bất cẩn,
nhẫn tâm – những lỗi lầm vừa tự nhiên vừa cá biệt của chúng ta.







---------


Nguồn nguyentrongtao.info


 


BÀI XEM NHIỀU