Truyện ngắn, Truyện cực ngắn, Tạp văn, Thơ, Bạn văn, Nhạc, Tranh ảnh, VĂN HỌC NGHỆ THUẬT, Truyện dài

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhạc-Tranh-Ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhạc-Tranh-Ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2023

CHÚC MƯNG NĂM MỚI 2024


 

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2024


Ý

𝙻à𝚖 𝚝𝚑ơ 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 𝚌𝚑ỉ 𝚝ỏ 𝚋à𝚢
𝚅𝚒ế𝚝 𝚟ă𝚗 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 để 𝚗𝚐à𝚢 𝚜𝚊𝚞 𝚕𝚞ậ𝚗 𝚋à𝚗
𝚃𝚛ó𝚝 𝚖𝚊𝚗𝚐 𝚋𝚊 𝚌𝚑ữ 𝚜à𝚗 𝚜à𝚗.
𝚇𝚒𝚗 𝚕à 𝚑ơ𝚒 𝚝𝚑ở 𝚗ồ𝚗𝚐 𝚗à𝚗 𝚝𝚑ươ𝚗𝚐 𝚢ê𝚞
𝚃𝚑ơ 𝚟ă𝚗 𝚝𝚑𝚊 𝚝𝚑𝚒ế𝚝 𝚖ộ𝚝 đ𝚒ề𝚞
𝙼𝚘𝚗𝚐 𝚕ò𝚗𝚐 𝙽𝚑â𝚗 𝙽𝚐𝚑ĩ𝚊 í𝚝 𝚗𝚑𝚒ề𝚞 𝚝𝚛𝚊𝚘 𝚗𝚑𝚊𝚞.

𝙷Ò𝙰 𝚅Ă𝙽
1/1/2024

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2018

PHẠM HẦU: HỌA SĨ - THI SĨ





https://www.baodanang.vn/tac-gia-xu-quang/201802/pham-hau-vay-ngoai-vo-tan-2591165/index.htm

Trên văn đàn, có nhà thơ viết trước sau chỉ khoảng 20 bài thơ, thế nhưng nhắc đến ông là người ta nhớ đến hai câu bất hủ Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận/ Chẳng biết xa lòng có những ai?. Thế mới biết, đi vào trái tim nhân thế đâu cứ phải thiên kinh vạn quyển...



Đó là nhà thơ đất Điện Bàn - Phạm Hầu, người được Hoài Thanh - Hoài Chân phác họa chân dung trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” (NXB Văn học, 2000, tr 226, 227) bằng vài nét cảm nhận về thơ rằng: “Ở giữa đời, Phạm Hầu là một cái bóng, chân đi không để dấu trên đường đi”; “Hồn thơ là một cái gì đó rất mong manh”...

Họa sĩ làm... thơ

Phạm Hầu (1920 - 1944), tên trong gia phả là Phạm Hữu Hầu, sinh ở Gò Nổi, làng Trừng Giang nay thôn Hòa Giang, xã Điện Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Cha ông là Tiến sĩ Phạm Liệu, người đứng đầu nhóm “Ngũ phụng Tề phi” xứ Quảng, từng làm quan đến chức Tổng đốc Nghệ An rồi Thượng thư Bộ Binh dưới 4 triều vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại.

Lúc nhỏ, ông học Trường Quốc học Huế, sau ra Hà Nội học tại Trường Mỹ thuật Đông Dương (nay là Đại học Mỹ thuật Việt Nam).

Do mắc chứng bệnh động kinh, ông nằm điều trị tại nhà thương Vôi ở Bắc Giang một thời gian rồi được chuyển về quê nhà, nhưng khi tàu hỏa đến đoạn Đồng Hới (Quảng Bình) - Huế, thì ông mất.

Về sự ra đi đột ngột của nhà thơ, trong cuốn “Việt Nam thi nhân tiền chiến - Quyển 2” (NXB Sống Mới, Sài Gòn, 1968, tr. 91-95) viết như sau:

“(Phát giác ông mất), người soát vé bắt buộc người thân đi theo phải đem xác ông xuống ga Truồi (Huế). Từ nơi đó, người nhà thuê thuyền đưa ông về Huế rồi an táng trên một đồi nhỏ, sau một ngôi chùa cổ ở vùng Nam Giao.

Và để tiễn biệt một linh hồn cô đơn đi vào nơi yên nghỉ cuối cùng, người ta chỉ nghe đôi câu kinh, vài tiếng thút thít trong một chiều mưa gió thê lương...”.

Ông vẫy ngoài vô tận ngày 3 tháng 1 năm 1944, hưởng dương 24 tuổi, để lại cho đời khoảng 20 bài thơ, nhưng đó là những viên ngọc quý trong kho tàng thi ca Việt Nam, trong đó nổi tiếng nhất là Vọbg hải đài.



Học Trường Mỹ thuật Đông Dương khóa 13, Phạm Hầu là họa sĩ, nhưng rất tiếc không rõ ông có bao nhiêu họa phẩm. Vào tháng 5-2017, nhà văn Hòa Văn (quê làng Đông Bàn, xã Điện Trung) công bố trên blog của mình (hoavanruotra.blogspot.com) bài viết “Tìm thấy một họa phẩm của họa sĩ Phạm Hầu”. Đó là bức chân dung ông thợ mộc Trần Văn Anh cùng làng Trừng Giang với họa sĩ, vẽ bằng bút chì đường nét còn tốt.

Tác giả dẫn lời ông Trần Cao Hoang (tên thường gọi Trần Văn Quận, cháu nội ông Trần Văn Anh hiện ở làng Trừng Giang) cho biết, ông Anh làm thợ mộc, thường hay đóng cho nhà ông Phạm Liệu các đồ gia dụng bằng gỗ.

Hôm ấy họa sĩ - thi sĩ Phạm Hầu vừa về nhà gặp ông đang lắp ráp đồ mộc. Thi sĩ - họa sĩ ngỏ ý: “Trưa ông về lấy khăn đóng áo dài trở lại nhà đây tôi xin vẽ chân dung của ông”. Thế là bức chân dung được vẽ xong. Nay tuy không còn như ban đầu do giấy không tốt nhưng nét vẽ đúng thần thái của ông Trần Văn Anh, được người cháu nội lưu giữ làm di ảnh thờ.

Sinh phận mong manh, người thơ phong vận

Viết về nhà thơ Phạm Hầu, chạnh nhớ đến nhà văn Hoàng Minh Nhân, người đã cặm cụi sưu tầm tư liệu để cho ra đời cuốn “Vẫy ngoài vô tận” (NXB Thanh Niên, 2001).

Người viết từng cộng tác với nhà văn Hoàng Minh Nhân khi ông nhận lời Ban Biên tập Tạp chí Văn Hiến tổ chức bài vở cho khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Có lần cùng ông lên viếng Ngũ Hành Sơn, dừng chân trước Vọng hải đài và mường tượng đâu đó có bóng dáng nhà thơ – chàng trai trẻ của gần 70 năm trước đang trầm ngâm ngắm non xanh biển thẳm, rồi bất chợt rùng mình giữa chốn linh thiêng mà rứt lòng ra những câu thơ diễm tuyệt: “Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận/ Chẳng biết xa lòng có những ai?”.

Vọng hải đài trên ngọn Thủy Sơn ở danh thắng Ngũ Hành Sơn.

Cái cảm giác chông chênh, nhẹ hẫng khi đứng trên đài trông ra biển ấy đã nâng nhà thơ người Điện Bàn lên với gió với mây, chạm đến khoảnh khắc hiện tồn mà bất giác neo một câu hỏi nửa thực nửa hư vào bao la vô tận.

Ngày trước, hai câu thơ bất hủ đó đã lọt vào mắt xanh của Hoài Thanh - Hoài Chân và hai nhà phê bình văn học này đã “tạc” chân dung "vẫy ngoài vô tận" của Phạm Hầu vào cuốn Thi nhân Việt Nam 1932-1941 từ năm 1942 với bản in lần đầu do Nguyễn Đức Phiên xuất bản.

Ở nơi cao xanh nào đó, Phạm thi sĩ hẳn đã tỏ lòng cảm ơn Ngũ Hành Sơn nói chung, Vọng Hải đài nói riêng, với cảnh sắc trời mây non nước, đã khiến mình “phải lòng” mà cảm tác nên những câu thơ được người đời nhắc hoài đến… vô tận!

Thi sĩ Bùi Giáng trong tạp văn Phạm Hầu đăng trong cuốn Thi ca Tư tưởng xuất bản năm 1969 tại Sài Gòn, đã nhận xét về ông: “Phạm Hầu viết những lời như thế thuở ông hai mươi mấy tuổi đầu. Hai mươi mấy tuổi mà dường như đã có đủ trong hồn một trăm năm đạo hạnh.

Ông đi vào thi ca, nghệ thuật, với tâm hồn con người thanh tu đạt đạo. Người thanh niên ấy đã biết khước từ hết mọi thứ “dưỡng chất trần gian” và âm thầm gửi cho trần gian một chút tặng vật nho nhỏ.

Ngờ đâu tặng vật nho nhỏ kia lại khổng lồ như một Kim Tự Tháp nằm giữa sa mạc mênh mông để ghi lại ngấn tích một nền văn minh huyền ảo nhất thế gian”.

Hai mươi mấy tuổi đầu quả là “mong manh sinh phận”, một sự mong manh khiến tác giả Nguyễn Thanh Tâm bật lên câu hỏi đầy cảm thán trong bài “Phạm Hầu - Gieo lệ vàng trên ngấn nắng…” đăng trên Chuyên trang Văn học Quê nhà - Báo điện tử Tổ Quốc (vanhocquenha.vn) của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:

“Tôi cứ băn khoăn tự hỏi: Nếu Phạm Hầu không “ngã hồn” ở tuổi 24 trên chuyến tàu muộn về xứ Huế ấy, hành trình thi nghiệp của ông sẽ đi về đâu và có một dạng thái như thế nào? Với chút mong manh của sinh phận, những điều đã biết về Phạm Hầu, về thơ ông, dù ít ỏi, nhưng cứ làm người ta thấy tiêng tiếc”.

Định mệnh đã tước đi ở con người tài hoa ấy cái tuổi thanh xuân tươi đẹp nhưng đã bù lại một chất thơ là lạ làm cho thơ ông mãi ở lại trong lòng người yêu thơ cho dù ông đã thênh thang làm một cuộc dạo chơi "vẫy ngoài vô tận":

“Thơ Phạm Hầu có chất, biểu hiện bằng một thi điệu riêng khá quyến rũ. Cái quyến rũ của chất thơ là lạ, rung cảm và mong manh. Đặc biệt, thơ Phạm Hầu toát ra một thứ khí vị tiêu trầm, yểu vong, ám ảnh vào lòng người đọc.

Như Hàn Mặc Tử đã có lần thốt lên: Người thơ phong vận như thơ ấy, thơ Phạm Hầu là con người, là tinh túy của cõi trần ghé tạm vài mươi năm tuổi trẻ”. (Nguyễn Thanh Tâm, bài đã dẫn).

Cuộc rong chơi ghé tạm cõi trần của nhà thơ đã dừng lại khi ông chỉ mới tròn tuổi 24. Thế mà ngày ông chào đời tính đến nay đã gần một thế kỷ (ông sinh ngày 1 tháng 3 năm 1920). Người đã ra đi về cõi vô tận nhưng thơ thì vẫn chẳng thể xa lòng đối với tín đồ của một giáo phái có tên là Thi ca. Cho dù con người ấy chỉ ghé tạm cõi trần với một sinh phận mong manh...

VĂN THÀNH LÊ



Một số bài thơ tiêu biểu của Phạm Hầu

Y Lan

Xuân về ca xúy ở dương gian

Âm điệu trong màu nắng mới sang

Trăm ngón hoa buông hình yểu điệu

Nhịp nhàng hương tỏa, dịu dàng lan...



Âm điệu reo vui với nắng đào

Sắc màu tươi đẹp chốn hoa lâu

Tuy nhiên trong cảnh sang xuân đó

Một cội cây xuân dáng điệu sầu



Lá thắm, từng dây, lá rủ hàng

Buồn là bản chất của Y Lan

Cái cây thi sĩ vô tình đã

Biên những dòng "thơ lá" bẽ bàng



Trời là trang giấy rộng như mơ

Ghi chép hồn cây, phải một tờ...

Khốn nỗi bao người lơ đãng quá

Vô tình không hiểu đó là thơ



Tôi đi làm bạn với cây kia

Hồn để song song chẳng gọi về

Cây mạnh, tôi xuân, buồn vẫn đắm

Mạnh, buồn ai bảo phải phân chia.



Lý tưởng

Sầu hương hoa gạo đỏ bên chân,

Xa nắng chiều hoe nhạt mấy phần.

Một cột đèn cao mơ góa bụa,

Đường dài toan nối hận gian truân.

Tôi theo tư tưởng vô cùng tận,

Chỉ gặp vô cùng nỗi quạnh hiu.

Sáng sớm: rạng đông, chiều: chạng vạng,

Những giờ mới lạ có bao nhiêu?

Thuở nhỏ đêm mơ nằm thấy bướm.

Giờ không mơ bướm lại mơ thơ.

Đời tôi nếu rụng bao nhiêu sắc,

Cũng bởi vì tôi quá mộng hờ.

- Ao ước ngày mai sắc nắng thơm

Chiều mai thôi ráng nhuộm cô đơn.

Chiều qua gió thổi lời tôi nguyện,

Quên thổi giùm tôi hận chập chờn.

Tôi đợi người đây, Tuyệt Đích ơi!

Dẫu xa, xa cách mấy phương trời.

Biết rằng vô ích sao tôi vẫn

Phung phí đời tôi mấy độ tươi.



Vọng Hải đài

Chẳng biết trong lòng ghi những ai?

Thềm son từng bước gót vân hài.

Hỡi ôi! Người chỉ là du khách

Giây phút dừng chân Vọng Hải đài.

Cơn gió nào lên có một chiều

Ai ngờ thổi tạt mối tình kiêu

Tháng ngày đi rước tương lại

Làm rã chân thành sắp sửa xiêu.

Trống trải trên đài du khách qua

Mây ngày vơ vẩn, gió đêm tà,

Muôn đời e hãy còn vương vấn

Một sắc không bờ trên biển xa.

Lòng xiêu xiêu, hồn nức hương mai,

Rạng đông về thức giấc hoa nhài.

Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận

Chẳng biết xa lòng có những ai?



Chiều buồn

Tôi đã dám cầu xin hai giọt lệ

Trên mi nàng huyền bí vẻ say mê

Cho điệu buồn man mác tự đâu về

Đưa ngọn cỏ theo chiều mây lặng lẽ



Cho tôi được nghiêng kề nàng thỏ thẻ

Vì lời yêu rên siết ẩn trong tôi

Chỉ khi buồn may mới thoáng qua thôi

Mà hương lệ đó là trang sổ quý



Buồn len lỏi trên đầu cây, thi vị

Gieo lệ vàng trên ngấn nắng chiều trôi

Tôi kề nàng môi chạy kiếm làn môi

Lời tôi lặn trên môi nàng rung động



Yêu đương đến tất cả chiều mơ mộng

Buồn nhẹ nhàng trong làn khói thu không

Buồn mơn man trên đầu tóc rối bòng

Và vơ vẩn bên đôi người vô tội



Nàng và tôi, nhánh sầu chung rễ cội

Kề vai nhau khi lệ với chiều, rơi

Khi giọt sương âu yếm nhỏ lên người

Nàng và tôi là hai dòng lệ nối.

Trích từ các nguồn: Hoàng Minh Nhân, Vẫy ngoài vô tận, NXB Thanh niên, 6-2001; báo Bạn Đường số 24, ngày 4 tháng 4 năm 1942; Tao đàn tạp chí, NXB Tân Dân, Hà Nội, 1939; Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 2007.




Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2018

Chợ Hòa Bình làng Đông Bàn, Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam





Chợ Hòa Bình (Tân Bình 3), Đ.Trung.

Bạn ah trước đây tại xóm Hòa Bình làng Đông Bàn có giếng Bốn Trụ (giếng hiện còn được làng gìn giữ trở thành di tích vật thể).

Tại xóm Hòa Bình còn có chợ mang địa danh xóm, vừa qua bc xóm đã lập lại chợ này chỉ đông vài giờ từ sáng sớm, chợ nho nhỏ nhưng mua bán nhộn nhịp vs đa dạng hàng hóa... thực phẩm.

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018

Hòa Văn: GIÁ NHƯ... 12 truyện cực ngắn














1. GIÁ NHƯ...
NGƯỜI XỨ QUẢNG TRUYỀN TỤNG MỘT CHUYỆN.
RẰNG XƯA ĐẠI QUAN HỌ HOÀNG CẢ ĐỜI HẾT LÒNG VÌ NƯỚC VÌ DÂN, KHI TỔ QUỐC AN VUI THÌ LIÊM CHÍNH, NGUY NAN THÌ HY SINH ĐỂ LẠI   TIẾNG THƠM MUÔN THUỞ.
   Sinh thời bà mẹ(*) Đại quan một mực thương yêu chồng con, sớm hôm tần tảo hái dâu nuôi tằm, làm ruộng ngay tại quê nhà. Vốn chất phát nhân hậu bà từng căn dặn con cái lúc nhỏ lo học hành, lớn lên có làm gì cũng phải giữ đạo nhà phép nước, sống giản dị. Khi nhậm chức quan bà căn dặn Đại quan phải liêm khiết, làm điều ích nước lợi dân. Đó là hiếu là thảo với mẹ với cha.
   Một hôm Đại quan họ Hoàng gởi về kính tặng mẹ một tấm áo bằng lụa để tỏ lòng hiếu thảo.
Cầm áo vải óng mượt đẹp chưa từng thấy dù đây là sản phẩm có một phần công sức của người nông dân dãi dầu mưa nắng như bà góp phần làm ra nó, bà trầm ngâm suy nghĩ rồi lụi bụi xách dao bầu ra biền chặt một cây roi dâu cuộn tròn lại gói chung với áo lụa nhờ người mang đến đem trở về trả lại cho con.
   Đại quan họ Hoàng nhận lại tấm áo trong đó có cái roi dâu hiểu ngay lời của mẹ gởi gắm...
   Ngày nay, giá như...
   Giá như!.
(*): Đây là người mẹ Gò Nổi- Điện Bàn, Quảng Nam thân mẫu của cụ Hòang Diệu.





2. VƠI
   Ngày thường sống với đứa cháu nội lên mười, ba ngày tết nhà lão Vy có thêm vợ chồng hai đứa con trai, vợ chồng đứa con gái bởi vậy không khí gia đình vui hẳn lên.
   Tự nhiên đang ngồi quây quần chuyện trò vui vẻ lão Vy buột miệng: “Bao giờ trở lại... “Tết xưa!””.
   Con trai; con gái; dâu; rể lặng lẽ nhìn cha. Bảy đứa cháu ngoại; cháu nội ở xa về nhìn nhau... lặng im.
   Đứa cháu nội lên mười thưa: “Con thấy trong tủ lạnh, rồi trên các tủ gỗ quanh nhà bếp nhà mình quá trời đồ ăn thức uống. Còn như nhà bà A gần bên con nghe nói hộ nghèo mà tết đến bà sắm lũ  củ nào là thịt heo bánh tráng, kẹo mức mà ông?. Chẳng lẽ tết ngày xưa giàu hơn hở ông nội?”.
   Nhìn ra sân... Nắng xuân trải sắc vàng rực rỡ trên từng bông mai, bông cúc đang nở rộ... Xuân về Tết tới đúng chu kỳ thiên nhiên, vật chất mỗi năm mỗi thêm lên nhưng cứ thấy thiếu thiếu điều gì...
   Lão Vy uống thêm ngụm trà ngồi ngẫm nghĩ... "Nét đẹp ngày tết... vơi dần!".

3. ÔNG TRUNG TRUNG
   Hồi nhỏ tới tết tôi ưng nhất là được lì xì. Được lì xì năm đồng, mười đồng, có khi là cây kẹo, cái bánh... cũng vui thôi chứ chẳng nghĩ nhiều ít!.
   Giờ khi đã “thất thập cổ lai hy” tôi thấy trẻ con cũng ưng lì xì mà lì xì nhiều mới thích!.
   Bởi vậy hôm đến thăm một ông bạn, nhà đang có cậu em út dẫn theo đứa con gái lên mười đang trò chuyện tết...
   Đứa bé lên mười vừa hớn hở săm se các bao lì xì vừa nói rành rọt:
   - Cái ni của ông lớn nề! Cái ni của ông nhỏ nề!
   Thấy tôi không hiểu chị vợ ông bạn giải thích “Nó nói ông lớn là ông lì xì cho nó năm chục ngàn đồng, ông nhỏ là lì xì chỉ có năm ngàn đồng, còn lại là ông trung trung!”.

4. CỔ LỖ XỈ!
   Chiều hai mươi chín tết tôi đến nhà sách Sơn Hải ở thị trấn V. tìm mua một cây bút lông loại ngày xa xưa các ông thầy đồ dùng viết chữ Nho.
   Tiếp tôi là cô gái khoảng mười bảy; mười tám tuổi khá xinh cô đang học hành ở xa nay về ăn tết.
   Tôi nói: “Bán cho ông cây bút viết chữ Nho”
   Tỏ vẻ ngạc nhiên cô đáp: “Bi giờ làm chi có loại bút “Cổ lỗ xỉ” ấy!”
   Tôi chưa kịp nói câu nào với cô bé thì chị chủ nhà sách bước nhanh tới và nói: “Dạ!. Dạ có!”.
   Trả tiền xong tôi cảm ơn chủ nhà sách và suy nghĩ... “Cổ lỗ xỉ!”?.

5. “???” 1

   Đám trẻ lên năm lên bảy xúm nhau lại giả bộ chơi trò “vợ chồng”.
   Cu Lỳ đứng chống nạnh nói:
   “Nhỏ Xíu! Làm gì có tiền?”
   Thực ra Nhỏ Xíu đang cầm mấy cái lá mít.
   Nhỏ Xíu lí nhí:
   “Dạ thưa! Dạ thưa của anh Vuông cho ạ!”
   Cu Lỳ:
   “My không nghe xóm bảo Vuông là tay chuyên cắp vặt à!”
   Nhỏ Xíu:
   “Nghe! Có nghe nhưng ảnh hay cho kẹo con mà!”
   Cu Lỳ cười te toét bảo:
   “Ừ hỉ! Thằng ngó rứa mà biết “điều”
   Tôi hỏi:
   “Tại răng biết “điều”?”
   Cu Lỳ:
   “Còn hơn “ăn cắp” rồi cất kỹ!”.
    “???”

6. “???” 2
   Chơi trò “vợ chồng” chán đám trẻ chơi trò “thầy trò”.
   Cu Lỳ đóng vai người thầy mặt đăm chiêu hỏi:
   “Mấy trò về sau ưng làm việc chi nhất?”
   Đám trẻ ngồi lặng im.
   Nhỏ Xíu thưa:
   “Không làm mà có nhiều tiền!”
    “???”.


7. MANH MÚN
   NGƯỜI NÔNG DÂN VỚI THỬA RUỘNG NGƯỜI CÔNG NHÂN VỚI XÍ NGHIỆP TẤT CẢ KHÔNG GÌ KHÁC NGOÀI VIỆC PHẢI LÀM RA CÁI ĂN CÁI ĐỂ.
Từ hàng ngàn năm qua dù so với trước có nhiều thay đổi cảnh cơ hàn đói cơm lạt mắm không còn đại trà... nói thế không phải đã tốt đẹp cả!.
   Cái không ấy là manh mún. Chuyện đèn ai nấy rạng, ưng tranh phần hơn về mình, chuyện... , chuyện... nhiều khi vì tránh đi điều mắc lòng mắc bồi mà ít ai nói thiệt.   Manh mún thửa ruộng, cái máy móc... có thể là thường tình, manh mún trong suy nghĩ hành động thật đáng ngại!.
   Manh mún...

8. DỎM
   DỎM TỨC LÀ KHÔNG THIỆT. BIẾT THẾ NHƯNG CỨ THẮC MẮC!. Hồi còn nhỏ cu Su thường chau mặt khi ai nói nó dỏm lớn lên đi làm lúc đầu anh Su cũng khó chịu khi ai đó nói anh làm điều gì đó không thiệt... Bây giờ khác rồi hình như anh thích nghi với nhiều "chuyện thường ngày ở huyện"!.
   Mẹ anh Su tuổi trên chín mươi tuy có lọm khọm trong đi lại song minh mẫn lắm.
   Bà hỏi:   "Răng càng ngày con sống khác xưa nhiều?"
   Anh Su:
   "Dạ! Mẹ ở nhà nên không rõ thôi con còn "tử tế" chán!"
   Ý anh giờ đi đâu làm gì cũng gặp "dỏm": Người có người dỏm đồ vật có đồ vật dỏm không biết đâu mà lần... đến như sẽ có mẹ dỏm tức là các bà mẹ làm một công việc hết sức "đạo đức, nhân văn, thiêng chức" đẻ hộ!.
   Câu thơ "... như là có một mẹ thôi" từng xao xuyến bao người con còn hay đi vào dĩ vãng!.

9. ĐÁM MA KIẾN
   MỘT ĐÀN KIẾN DÀI NGOẰN ĐI THEO SAU MỘT ĐÁM MA CON KIẾN.
   Không rõ lý do chết chỉ biết cả nhà kiến ai nấy cũng tỏ vẻ thành kính và thương tiếc lắm!.
   Bốn chú kiến kẻ trước người sau khiêng kiến chết đi chầm chậm.   Cu Cơm nói:
   "Mẹ thấy hông kiến cũng biết thương kiến!"
   Mẹ cu Cơm:
   "Sao con nghĩ vậy?"
   "Dạ! Dạ tại con thấy đang đưa kiến chết đi chôn nhiều con kiến chụm đầu lại y hồi ngoại chết mẹ và dì Út ôm nhau khóc mẹ không nhớ hãy!"
   Không để mẹ trả lời cu Cơm nói tiếp:
   "Mẹ há đến con kiến còn biết thương nhau mà sao con người lại ganh ghét nhau giết chết nhau...
   A! con nhớ rồi vì tiền phải không mẹ?"
   Mẹ:
   "Tại sao con lại nghĩ vậy?"
   "Dạ con nghe truyền hình hôm qua nói vì muốn có mấy trăm triệu ai đó bắt và dọa giết hai người...!".
   Mẹ!!!.

10. CÁI MÂM
   CỨ NGỒI VÔ ĂN NHÀ ÔNG M KHÔNG CHUYỆN NÀY THÌ CHUYỆN NỌ NÊN MƯỜI BỮA NHƯ CHỤC không khí như đang ở chảo lửa nó nóng hừng hực. Cả năm người vừa vợ chồng con cái và thêm đứa cháu nội lên chín đều buồn phần ai nấy ăn...
   Phải như nhà bà Bay bên cạnh thiếu trước hụt sau như thế cho cam đàng này nhà ông M qua thời ăn tro mò trấu nay nhà cửa khang trang, con cái có công ăn việc làm hẳn hoi lại toàn việc hái ra tiền đống tiền khối...
   Cha ăn mặn con khát nước đời hay soi mói thế chưa kiểm chứng nhưng hồi ông M còn chức quyền nay chức quyền kế thừa cho con thì việc ăn nên làm ra là chuyện khỏi phải bàn chỉ có tại sao dư dã thế giàu có thế... bữa ăn nào cũng cá thịt thừa mứa thế mà cơm không lành canh không ngọt thì có trời mới tỏ!.
   Ông M:
   "Hắt quách cái mâm!".
   Ông nói trong hơi thở hổn hển.
   Đứa con trai:
   "Đâu phải tại nó mà hắt!".
   Cô con dâu: "Chẳng lẽ tại con cá!".
   Bà M im thin thít đỏ hoe đôi mắt vốn đã lão hoá vừa đục thuỷ tinh thể.
   Đứa cháu nội lên chín sè sẹ bỏ chén đũa xuống mâm rồi thưa:
   "Theo con tại những người ngồi quanh mâm cơm ạ!".
   Ra đường nghe bà già về nhà nghe con nít!.

11. HẾT BUỒN!
ĐỌC MỘT TRUYỆN CỰC NGẮN TRÊN FACBOOOK CÓ TÊN "BUỒN... ẢO" MÌNH LẠI BUỒN THẬT.
   Té ra trên mạng hàng tỉ người yêu thương nhau như thế có không ít người chỉ "yêu" chót lưỡi đầu môi...
   Ông Mark Zuckerberg một hôm đọc thấy những stt của họ bèn com...
   "Nếu hay tin ông chủ của Fb lụn bại bạn có ý tưởng gì giúp ổng vực dậy để trang "yêu thuơng có cánh" sống không?"
   „Hi hi... Xin thành thật chia buồn..."
   Mark Zuckerberg:
   "TKS bạn!. Tài khoản của bạn đã khóa. Lý do fb không bao giờ lụn bại vì luôn có hàng tỉ người yêu thương nhau thiệt tình!".
Mình hết buồn.

12 . HÃY TỰ CỨU! (*)
   MỘT HÔM ĐỘT NHIÊN MẠNG FACEBOOK Ở NUỚC X TẮT NGẤM KHÔNG PHẢI DO SỰ CỐ...
   Người người chạy hết ra khỏi nhà (nhà bank, nhà ở, nhà làm việc...), tất cả xe cộ dừng lại kéo còi...
   Có ông lão khoảng trên tám mươi tuổi chạy như điên trên đường giơ hai tay giơ lên caomiệng kêu "Trời!".
   Trời phán:
   "Các người không nhớ ah!: Hãy tự cứu!".

HÒA VĂN
------
(*):  26 tháng 012015 – Truyện cực ngắn Hãy tự cứu viết ngẫu nhiên trước một ngày, 27 tháng 012015 Facebook bị sập toàn mạng, 1 giờ sau mới truy cập lại được)

Thứ Ba, 10 tháng 10, 2017

ÔNG CƯƠNG





TÔI THÍCH GỌI ÔNG LÀ ÔNG CƯƠNG, Ý của tính cách của ông đồng thời có một chút riêng tư ông họ Văn Quỳnh Đôi, Nghệ An nơi trong gia phả họ tôi khi vô Trung khai cơ lập làng(*)  thời vua Lê Thánh Tông nhị niên 1471 ghi quê gốc Châu Hoan xứ Bắc, Châu Hoan khi tôi tìm về là nơi sinh của ông với dòng họ Văn đông đến nỗi lâu nay ít giỗ Tổ mà mời cả họ tại đây vì "đông quá!" ; nơi sản sinh nhiều người yêu nước thương dân nhiều bậc khoa bảng hữu ích cho xã tắc nhân sinh như tiến sĩ Văn Đức Giai,  phó giáo sư, tiến sĩ Văn Như Cương - ông Cương là hậu duệ tiến sĩ Văn Đức Giai.



Tôi gặp ông trong sự kiện của dòng họ Văn đại hội thống nhất toàn quốc lần thứ nhất tại Huế cách nay 5 năm (2012-2017). Tiếng của ông nghe nhiều khi được ông bắt tay trong tình gia tộc càng cảm nhận sự ấm áp gần gũi thân tình y như ông cháu xa lâu ngày gặp lại. Lần gặp ấy đại diện đoàn đại biểu họ Văn Quảng Nam-Đà Nẵng tôi và anh Long chỉ ý kiến với ông về việc chung của dòng họ Văn sau buổi họp đại hội trù bị. Ông ghi nhận và hứa tối về sẽ đọc lại văn bản... rồi sáng sớm hôm đại hội chính thức khai mạc ông nói đã bàn và Ban tổ chức đã đồng ý để văn bản này lại không trình ra đại hội, đại hội giao cho Ban chấp hành tiếp tục nghiên cứu thu thập thêm ý kiến tài liệu để lịch sử họ Văn Việt Nam không những đầy đủ mà phải chính xác, việc này thấy rằng tính cách ông làm việc rất chu đáo sẵn lòng lắng nghe ý kiến và nếu thấy đúng thì hoan nghênh.

Việc ông từng thẳng thừng không màng danh lợi đã từng nghe kể hoặc đọc trên báo chí nên khi đại hội trù bị nhiều đoàn đại biểu đề cử ông vào Ban chấp hành và chức danh chủ tịch Hội đồng họ Văn VN khóa I (2012-2017), ông cảm ơn sự tín nhiệm của dòng họ nhưng ông xin không đảm nhận để nhiệm vụ ấy cho thế hệ trẻ hơn ông là lời nói tâm huyết!. Ông nói thêm làm việc họ tộc là vinh dự rất cần nhiệt tình và sự trong sáng trong mọi công việc.

Qua nhiều đề nghị thiết tha cả hội trường vỡ òa trong niềm vui khi ông Cương nhận làm chủ tịch và đọc diễn văn bế mạc đại hội "Đại hội thống nhất phát triển bền vững dòng họ Văn Việt Nam".

Một nhiệm kỳ đầu tiên gần kết thúc ông cùng BCH họ Văn VN đang xúc tiến chuẩn bị Đại hội II tại Tp HCM vào 28-29/10/2017 sắp tới thì ông đã...

Tin ông từ trần dù biết ông đầy nghị lực "chung sống" với bệnh hiểm nghèo đã mấy năm gần đây nhưng người người yêu quý ông không khỏi bàng hoàng thương tiếc!.

Kính gởi đến gia đình, Ban lễ tang Ông Văn Như Cương lời chia buồn thống thiết "HUYẾT THỐNG ĐỒNG BI", kính cầu hương hồn ông thanh thản về cõi vĩnh hằng!./.

-----

(*): Làng Đông Bàn, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn nay là một trong địa phương của Quảng Nam- Đà Nẵng.

xem liên kết

https://hovanquangnamdanang.blogspot.com/2017/10/ong-cuong.html

https://hovanquangnamdanang.blogspot.com/2017/10/ong-cuong.html

Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017

TÌM THẤY MỘT HỌA PHẨM CỦA HỌA SĨ PHẠM HẦU







MỘT BỨC HỌA CHÂN DUNG QUÝ DO THI SĨ, HỌA SĨ PHẠM HẦU VẼ BÚT CHÌ


Bức ảnh chân dung ông Trần Văn Anh người làng Trừng Giang do thi sĩ, họa sĩ Phạm Hầu vẽ bút chì.
Ông Trần Văn Quận nay (2017) đã 89 tuổi khi được hỏi về lai lịch bức di ảnh của ông nội là ông Trần Văn Anh. Ông Quận nói ngay:





"Ông Phạm Hầu vẽ bằng bút chì"










Ông nội của ông làm thợ mộc thường hay đóng cho nhà ông Phạm Liệu các đồ gia dụng bằng gỗ.

Hôm ấy thi sĩ, họa sĩ Phạm Hầu vừa về nhà gặp ông Trần Văn Anh đang lắp ráp đồ mộc.

Thi sĩ, họa sĩ Phạm Hầu ngỏ ý:






"Trưa ông về lấy khăn đóng áo dài trở lại nhà đây tôi xin vẽ chân dung của ông"






Và bức chân dung được vẽ xong bằng bút chì (ảnh).

Ảnh vẽ trên giấy thường giờ không còn như ban đầu nhưng nét vẽ đúng thần thái của ông Trần Văn Anh.

Ông Quận nói cha của ông nói như vậy.

Tôi liên tưởng đến một thông tin: "Bức tranh siêu thực Hòn đá được giải nhất trong Triển lãm mỹ thuật Đông Kinh tại Nhật Bản đã minh chứng cho thiên hướng nghệ thuật của Phạm Hầu. Dù trong hội họa hay thơ ca, Phạm Hầu đều mang tư tưởng tự do trong sáng tạo, hướng tới vô biên và “Tuyệt đích”, “vô cùng tận”, “Ta thích nghệ thuật nào đem ta tới vô biên”.".

Bức tranh siêu thực Hòn đá và tác phẩm hội họa khác nay thất truyền, bức chân dung họa sĩ Phạm Hầu vẽ tặng người thợ mộc trong làng được lưu giữ và trở thành di ảnh thờ từ khi ông Trần Văn Anh quá vãng.

Đến nhà ông Quận khi thấy bức di ảnh lạ sắc nét tôi hỏi và ông Quận cho biết đây là tác phẩm do thi sĩ Phạm Hầu vẽ tặng ông nội vào năm 1941.

“Năm đó tui 13 tuổi”

Ông Quận nói như vậy.

Thi sĩ, họa sĩ Phạm Hầu (tên đầy đủ là Phạm Hữu Hầu) sinh ngày 2 tháng 3 năm 1920 – mất ngày 3 tháng 1 năm 1944) quê quán làng Trừng Giang, Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam; thi sĩ có tên trong cuốn Thi nhân tiền chiến. Cha là Tiến sĩ Phạm Liệu Thượng Thư triều Nguyễn, mẹ là bà Lê Thị Giảng người Thanh Hóa.

 Họa sĩ Phạm Hầu từng học trường mỹ thuật Đông Dương (khóa 13) ngoài hội họa ông còn yêu thích thơ số lượng thơ chỉ khoản 20 bài trong đó bài Vọng hải đài nổi tiếng đã đưa tên ông vào Thì nhân Việt Nam tiền chiến (*)./.

HÒA VĂN

(17/05/2017)

-----

(*): Trích trong Thi nhân Việt Nam:

"...Ở đời có những người nói to bước vững. Phạm Hầu quyết không phải trong hạng ấy. Ở giữa đời Phạm Hầu là một cái bóng, chân đi không để dấu trên đường đi. Người còn mải sống với mình và con người ta tưởng không có gì là một người giàu vô vạn. Lòng người là một vọng hải đài, người chỉ việc đứng trên đài lòng mà ngắm: "Qua lại thiếu gì mây sớm gió chiều...". (Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh-Hoài Chân NXB Văn in lại 1988 trang 159")

 (Quyển 2):

"Có thể nói, Phạm Hầu là hình ảnh kết tinh của một tâm hồn thơ và lòng yêu chuộng nghệ thuật. Tuy thơ ông rất ít, nhưng không thể lấy số lượng đánh giá trị thi nhân...Vì bài nào của ông cũng đều có một chiều sâu và chứa đựng một triết lý nhân sinh....Là một nghệ sĩ, tâm hồn ông thường hay rung cảm một cách bén nhạy...Mới chỉ trong cái tuổi đôi mươi mà ông đã quyết định mang theo bên mình một hoài bảo to lớn. Đấy là một cứu cánh toàn hảo, một tuyệt đích tình yêu, một tột cùng của nghệ thuật; nói gọn, đấy là cái Chân, Thiện, Mỹ vậy. Và có lẽ ít có người nghệ sĩ nào quá trân trọng bóng thiều quang như ông. Với ông, thời gian của kiếp đời mình cũng như vò nước. Từng giọt, từng giọt nhỏ dần…cho nên thi nhân không dám phung phí, luôn tự thúc giục mình trong công việc sáng tạo, để có thể lưu lại một cái gì trước tuổi 30. (Phần trích trong Thi nhân Việt Nam tiền chiến theo Wikipedea).

Xem thêm:

http://langdongban.blogtiengviet.net/?p=6215333&more=1&c=1&tb=1&pb=1#more6215







Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2016

PHẠM PHAN HÒA - NGƯỜI YÊU THƠ VÔ CÙNG



TIN BUỒN

Nhà thơ Phạm Phan Hòa (Hòa Phan) sinh năm 1957 tại làng Bàn Lãnh xã Điện Trung thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Hiện ở tại làng Bàn Lãnh.

Sau một thời gian lâm bệnh  dù được gia đình, họ tộc, bệnh viện, bà con xóm giềng thân hữu tận tình chăm sóc cứu chữa nhưng bệnh nặng  đã từ trần lúc 2 giờ 35 ngày 03/09/2016 (03/ Tám Bính Thân)

Hưởng thọ 60 tuổi

Lễ viếng từ 17 giờ 30 ngày 03/09/2016

Lễ di quan 5 giờ 10 ngày 06/09/2016 (06 tháng Tám Bính Thân)

An táng tại Nghĩa trang gia tộc họ Phạm Trường tọa lạc trong Nghĩa địa xã Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam.




Chân dung nhà thơ Phạm Phan Hòa



---------------

PHẠM PHAN HÒA - HÒA PHAN người yêu thơ vô cùng

PHẠM PHAN HÒA (PPH) viết và ngâm thơ điều này ở Gò Nổi Điện Bàn ai cũng biết. Anh yêu thơ không điều kiện.

Không điều kiện chứ không dễ dãi... Ở anh thơ của thân hữu hay của anh đều quý như nhau. Từng câu chữ viết tự đáy lòng với cả niềm yêu thiệt (thà) của anh như mưa và nắng như mùa đông mùa xuân tất cả tự nhiên và tự tại...

Giờ trong cơn bệnh hiểm nghèo thế mà khi nhắc đến thơ anh nhớ từng bài. Với hàng trăm bài thơ viết yêu mình yêu người; đất trời và miền quê yêu dấu...

Từng học trường Văn hóa nghệ thuật nên ngoài thơ - phần nhiều là thơ lục bát PPH còn viết nhạc và vẽ.

PPH sáng tác trên 100 bài thơ in trên báo và mạng.

Chung quy từ tấm lòng thiệt đáng yêu.

Sau một thời gian lâm bệnh nặng dù được gia đình, họ tộc, bệnh viện, bà con xóm giềng thân hữu tận tình chăm sóc cứu chữa nhưng bệnh nặng đã từ trần.

Bài viết là nén tâm nhang thắp tiễn PPH.

HÒA VĂN (QUẢNG NAM)

-------------

Xin chia sẻ một số bài của anh đã đăng tải trên báo, mạng:

PHẠM PHAN HÒA (HÒA PHAN)

TRẢ LẠI

Lặng xin chấp hai bàn tay

 Hướng cao trời rộng khẩn ngày còn - không!

 Rồi tan... sương khói mênh mông

 Rã rời thân phận - bềnh bồng nổi trôi.

 Chiều buông nắng tím bồi hồi

 Mai xin là cỏ mượt đồi đợi nhau.

 Có còn muôn vạn kiếp sau

 Lặng nương theo tiếng kinh cầu... xót thân!.

… Xin cho ngày trả căn phần

 Bụi đường qua giũ - nợ nần gieo neo

 Cõi về đâu kịp mang theo

 Tan trong khói... trả bọt bèo phấn hương.

PPH

10/03/2016



ANH VỀ

            

Cũng về

Gom nhặt cho nhau,

Sẽ dần phai..

Trắng

Một màu khăn tang!

... Anh đi, dẫm mộng

Điêu tàn.

Ngày về xóa sạch

Lỡ làng

Không

Em!.

PPH

13/4/2016.

LỜI ĂN NĂN!



Phạm Phan Hòa



Nâng sầu chạm cốc hư không

Mà nghe rượu đắng cháy lòng xót đau

Van trời! Chậm hạt mưa mau

Đợi tôi vuốt lại nếp nhàu tự tim



Nổi trên sông… vọng tiếng chìm

Để ngàn sau cõi tịch im mãi cười



Thiên thu người vẫn yêu người

Ngậm buồn, giữ nét nguyên tươi giữa đời



Đã trôi đã lệch một thời

Tôi quỳ xin nhận - muôn lời ăn năn.

 SAY !

Tặng bạn thơ tôi Điện Bàn- Quảng Nam



Phạm Phan Hòa





Ta đang uống rượu một mình

Ta đang chuốc chén để tình ta say



Trời cao đất rộng ô hay!

Biển xanh rừng thẳm gót hài em qua



Bình minh rộn tiếng chim ca

Hoàng hôn bóng đổ thướt tha em về



Người sao... nỡ quên ước thề

Còn em lạc giữa bốn bề tâm giao



Cỏ say lời gió lao xao

Ta say tình với khát khao tặng người.





P.P.H

MÙA HOA DÂNG MẸ

Phạm Phan Hòa

Kính dâng mẹ Phan Thị Ngô.

Mẹ ơi!

Con ngã giữa đời.

Gượng

Quỳ bái vọng

Một thời mẹ cho.

.. Con qua sông

Đã đắm đò!

Mẹ - cho thân

Phận..

Mẹ dò được đâu!

Dẫu đời

Còn lắm bể dâu!

Hiếu lành hoa đạo

Thắm mầu

Tịnh

Chơn.

P.P.H

Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

HÀ NỘI NGÀY VỀ Thơ Hòa Văn _ Nhạc Trần Văn Chính



























Bài đăng trên Tạp chí đất Quảng số tháng 10 năm 2012


 




Hà Nội tôi ngày về nắng vàng thơm hoa sữa. Rộn ràng qua ngõ, phố
thiết tha lời yêu thương. Còn đây hồn "thu thảo", còn lối xưa Hoàng
thành, ngàn năm "lòng thương nhớ" Rồng bay nên sử xanh...


Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2014














 











CHÚC QUÝ VỊ & CÁC BẠN NĂM MỚI AN KHANG - THỊNH VƯỢNG - HẠNH PHÚC!. 


TKS QUÝ VỊ & CÁC BẠN ĐÃ DÀNH THỜI GIAN ĐẾN VỚI TRANG RỘT RÀ.








NĂM MỚI 2014 


MONG ĐƯỢC HÂN HẠNH CHÀO ĐÓN QUÝ VỊ & CÁC BẠN THƯỜNG XUYÊN!.



BÀI XEM NHIỀU