* Trang Văn học - Nghệ thuật VĂN CÔNG HÒA Làm thơ không chỉ tỏ bày Viết văn không để ngày sau luận bàn Trót mang ba chữ sàn sàn Xin là hơi thở nồng nàn thương yêu Thơ văn tha thiết một điều Mong lòng Nhân Nghĩa ít nhiều trao nhau!. HÒA VĂN * Email: vanqndn@gmail.com Link: vanconghoadb.blogspot.com
Truyện ngắn, Truyện cực ngắn, Tạp văn, Thơ, Bạn văn, Nhạc, Tranh ảnh, VĂN HỌC NGHỆ THUẬT, Truyện dài
- Truyện ngắn (47)
- Quê xứ (43)
- Bạn Văn (42)
- Thơ (41)
- hòa văn (31)
- Tạp văn (26)
- Nhạc-Tranh-Ảnh (14)
- thơ hòa văn (10)
- Trang chủ (7)
- Văn tế (1)
Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2023
CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2024
Ý
𝙻à𝚖 𝚝𝚑ơ 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 𝚌𝚑ỉ 𝚝ỏ 𝚋à𝚢
𝚅𝚒ế𝚝 𝚟ă𝚗 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 để 𝚗𝚐à𝚢 𝚜𝚊𝚞 𝚕𝚞ậ𝚗 𝚋à𝚗
𝚃𝚛ó𝚝 𝚖𝚊𝚗𝚐 𝚋𝚊 𝚌𝚑ữ 𝚜à𝚗 𝚜à𝚗.
𝚇𝚒𝚗 𝚕à 𝚑ơ𝚒 𝚝𝚑ở 𝚗ồ𝚗𝚐 𝚗à𝚗 𝚝𝚑ươ𝚗𝚐 𝚢ê𝚞
𝚃𝚑ơ 𝚟ă𝚗 𝚝𝚑𝚊 𝚝𝚑𝚒ế𝚝 𝚖ộ𝚝 đ𝚒ề𝚞
𝙼𝚘𝚗𝚐 𝚕ò𝚗𝚐 𝙽𝚑â𝚗 𝙽𝚐𝚑ĩ𝚊 í𝚝 𝚗𝚑𝚒ề𝚞 𝚝𝚛𝚊𝚘 𝚗𝚑𝚊𝚞.
𝙷Ò𝙰 𝚅Ă𝙽
1/1/2024
Thứ Tư, 13 tháng 4, 2022
Hòa Văn: PHẠM PHÚ THỨ - NGƯỜI CHẾ TÁC XE ĐẠP NƯỚC XE TRÂU Ở LÀNG ĐÔNG BÀN XƯA
Như nhiều làng quê xưa ở Điện Bàn (Quảng Nam) đất đai tiếng là màu mỡ nhưng dân làng Đông Bàn quanh năm cơ hàn do chỉ sản xuất lúa gieo, trồng khoai trồng sắn... tất cả được mất trông ở trời. Gặp năm hạn hán mùa màng thất bát, năm thuận cỏ dại mọc nhiều hơn lúa nên công chăm sóc nhổ cỏ rất cực nhọc, năng suất trúng lắm cũng chỉ đạt trên 10 ang một sào.
Tình cảnh ấy kéo dài cho đến khi cụ Phạm Phú Thứ - Tiến sĩ, người con của làng, đưa mô hình xe gió ở Ai Cập về quê làm thành xe đạp nước, phục vụ cấy lúa nước, cuộc sống dân làng mới khấm khá.
Đó là vào tháng 6 năm 1863, nhân chuyến đi Pháp và Tây Ban Nha theo dụ vua Tự Đức nhằm điều đình chuộc lại 3 tỉnh ở Nam Kỳ. Hành trình dài gần một năm từ 21. 6. 1863 đến 28. 3. 1864, cụ Phạm Phú Thứ đã học kỹ thuật làm xe "đạp nước" của dân bản xứ ở Ai Cập và khi về nước truyền lại cho dân làng Đông Bàn.
Xe đạp nước được chế tác từ các vật liệu sẵn có tại địa phương. Một bánh vành bằng tre đường kính 10- 12 mét, các thanh tre kết nối quanh một trục ngang gỗ lim hoặc gỗ trầm thị, trên vành tre lắp đặt ống tre một đầu kín cách đều nhau nghiêng theo một chiều 20 độ, các ống tre nầy dùng để múc nước từ dưới ao (hồ), đìa đưa lên mương máng. Hệ thống xe đạp nước đặt cố định trên bờ ao, đìa làm sao cho vành tre quay theo trục ngang khi có lực đạp đều lên thanh tre ngang trên vành, một xe đạp nước và một ao, đìa nước chiếm diện tích khoảng 1 sào đất, thường đặt ở trung tâm cánh đồng để tiện cho việc tưới nước. Trung bình một hồ xe cung cấp đủ nước tưới cho 2 mẫu (1 ha) ruộng.
Sau khi có xe đạp nước hơn 100 mẫu ruộng làng Đông Bàn xưa trở thành đồng lúa nước, năng suất tuy chưa cao (khoảng 25 ang/ sào), nhưng hồi đó đã là tiến bộ đáng kể. Để tính thời gian phiên nước bà con nông dân dùng trục chỉ quấnồìa trục ống tre cắm cố định nối với trục của xe đạp nước. Một chỉ nước (tức là hết 1 trục chỉ) bằng 120 vòng quay (khoảng 1 giờ) thì nước đủ tưới khoảng 1 sào lúa với mực nước ở ruộng trên dưới 1 tấc.
Sau này dân làng Đông Bàn cải tiến xe đạp nước thành xe trâu. Xe trâu xử dụng các thiết bị như xe đạp nước, có thêm 2 bánh xe răng cũng làm bằng gỗ mít ròng đường kính 0,5 mét và một trục gỗ lim (hoặc gỗ trầm thị) dài 7- 8 mét, đường kính 0,25 mét. Hệ thống nầy cài vào cổ trâu (ách trâu) khi trâu đi vòng quanh trên một thửa đất bên đìa (ao); lực kéo của trâu làm cho vành bánh xe nước quay, đưa nước từ đìa lên mương máng tưới ruộng. Năng suất xe trâu nhanh gấp 3 lần đạp nước. Một xe trâu tưới đủ nước cho hơn 5 mẫu ruộng. Cho đến năm 1965, ở làng Đông Bàn có 17 xe trâu và 5 xe đạp nước với đầy đủ hệ thống mương nội đồng.
Từ xe đạp nước, xe trâu ở làng Đông Bàn, về sau nhiều nơi trong ngoài tỉnh Quảng Nam làm theo và trở thành công cụ thuỷ lợi phổ biến phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Ngày nay, trên cánh đồng làng Đông Bàn xưa (thôn Nam Hà 1, Nam Hà 2, Tân Bình 3, Tân Bình 4, xã Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam) còn di tích nhiều ao (hồ), đìa, mang tên của chủ các xe đạp nước, xe trâu như Đìa xe trâu (còn gọi là hồ xe) các ông Hương Hẳn, Thủ Cầm, Thủ Thị, Xã Thành, Hương Triệu, Trùm Cũ, Tư Quán, Cửu Chương, Cửu Thám...
Nhắc lại một công cụ hữu ích: xe đạp nước, xe trâu một thời gắn bó với bà con nông dân, càng nhớ về cụ Phạm Phú Thứ- người con của quê hương Điện Bàn, Quảng Nam với tư tưởng canh tân đất nước nổi tiếng.
Hình ảnh xe đạp nước, xe trâu nếu được tôn tạo đặt ở một vị trí gần khuôn viên lăng mộ cụ Phạm Phú Thứ (ở thôn Nam Hà 1, xã Điện Trung) chắc sẽ góp phần ý vị cho du khách đến đây trước thắp nén hương kính tưởng nhớ cụ, sau thưởng lãm công cụ thuỷ lợi nổi tiếng một thời.
Hòa Văn
Hòa Văn: PHẠM PHÚ THỨ SÁNG CHẾ XE ĐẠP NƯỚC, XE TRÂU Ở LÀNG ĐÔNG BÀN
Như nhiều làng quê xưa ở Điện Bàn (Quảng Nam) đất đai tiếng là màu mỡ nhưng dân làng Đông Bàn quanh năm cơ hàn do chỉ sản xuất lúa gieo, trồng khoai trồng sắn... tất cả được mất trông ở trời. Gặp năm hạn hán mùa màng thất bát, năm thuận cỏ dại mọc nhiều hơn lúa nên công chăm sóc nhổ cỏ rất cực nhọc, năng suất trúng lắm cũng chỉ đạt trên 10 ang một sào.
Tình cảnh ấy kéo dài cho đến khi cụ Phạm Phú Thứ - Tiến sĩ, người con của làng, đưa mô hình xe gió ở Ai Cập về quê làm thành xe đạp nước, phục vụ cấy lúa nước, cuộc sống dân làng mới khấm khá.
Đó là vào tháng 6 năm 1863, nhân chuyến đi Pháp và Tây Ban Nha theo dụ vua Tự Đức nhằm điều đình chuộc lại 3 tỉnh ở Nam Kỳ. Hành trình dài gần một năm từ 21. 6. 1863 đến 28. 3. 1864, cụ Phạm Phú Thứ đã học kỹ thuật làm xe "đạp nước" của dân bản xứ ở Ai Cập và khi về nước truyền lại cho dân làng Đông Bàn.
Xe đạp nước được chế tác từ các vật liệu sẵn có tại địa phương. Một bánh vành bằng tre đường kính 10- 12 mét, các thanh tre kết nối quanh một trục ngang gỗ lim hoặc gỗ trầm thị, trên vành tre lắp đặt ống tre một đầu kín cách đều nhau nghiêng theo một chiều 20 độ, các ống tre nầy dùng để múc nước từ dưới ao (hồ), đìa đưa lên mương máng. Hệ thống xe đạp nước đặt cố định trên bờ ao, đìa làm sao cho vành tre quay theo trục ngang khi có lực đạp đều lên thanh tre ngang trên vành, một xe đạp nước và một ao, đìa nước chiếm diện tích khoảng 1 sào đất, thường đặt ở trung tâm cánh đồng để tiện cho việc tưới nước. Trung bình một hồ xe cung cấp đủ nước tưới cho 2 mẫu (1 ha) ruộng.
Sau khi có xe đạp nước hơn 100 mẫu ruộng làng Đông Bàn xưa trở thành đồng lúa nước, năng suất tuy chưa cao (khoảng 25 ang/ sào), nhưng hồi đó đã là tiến bộ đáng kể. Để tính thời gian phiên nước bà con nông dân dùng trục chỉ quấnồìa trục ống tre cắm cố định nối với trục của xe đạp nước. Một chỉ nước (tức là hết 1 trục chỉ) bằng 120 vòng quay (khoảng 1 giờ) thì nước đủ tưới khoảng 1 sào lúa với mực nước ở ruộng trên dưới 1 tấc.
Sau này dân làng Đông Bàn cải tiến xe đạp nước thành xe trâu. Xe trâu xử dụng các thiết bị như xe đạp nước, có thêm 2 bánh xe răng cũng làm bằng gỗ mít ròng đường kính 0,5 mét và một trục gỗ lim (hoặc gỗ trầm thị) dài 7- 8 mét, đường kính 0,25 mét. Hệ thống nầy cài vào cổ trâu (ách trâu) khi trâu đi vòng quanh trên một thửa đất bên đìa (ao); lực kéo của trâu làm cho vành bánh xe nước quay, đưa nước từ đìa lên mương máng tưới ruộng. Năng suất xe trâu nhanh gấp 3 lần đạp nước. Một xe trâu tưới đủ nước cho hơn 5 mẫu ruộng. Cho đến năm 1965, ở làng Đông Bàn có 17 xe trâu và 5 xe đạp nước với đầy đủ hệ thống mương nội đồng.
Từ xe đạp nước, xe trâu ở làng Đông Bàn, về sau nhiều nơi trong ngoài tỉnh Quảng Nam làm theo và trở thành công cụ thuỷ lợi phổ biến phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Ngày nay, trên cánh đồng làng Đông Bàn xưa (thôn Nam Hà 1, Nam Hà 2, Tân Bình 3, Tân Bình 4, xã Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam) còn di tích nhiều ao (hồ), đìa, mang tên của chủ các xe đạp nước, xe trâu như Đìa xe trâu (còn gọi là hồ xe) các ông Hương Hẳn, Thủ Cầm, Thủ Thị, Xã Thành, Hương Triệu, Trùm Cũ, Tư Quán, Cửu Chương, Cửu Thám...
Nhắc lại một công cụ hữu ích: xe đạp nước, xe trâu một thời gắn bó với bà con nông dân, càng nhớ về cụ Phạm Phú Thứ- người con của quê hương Điện Bàn, Quảng Nam với tư tưởng canh tân đất nước nổi tiếng.
Hình ảnh xe đạp nước, xe trâu nếu được tôn tạo đặt ở một vị trí gần khuôn viên lăng mộ cụ Phạm Phú Thứ (ở thôn Nam Hà 1, xã Điện Trung) chắc sẽ góp phần ý vị cho du khách đến đây trước thắp nén hương kính tưởng nhớ cụ, sau thưởng lãm công cụ thuỷ lợi nổi tiếng một thời.
Hòa Văn
Thứ Ba, 3 tháng 3, 2020
Hòa Văn: Giếng nước làng Đông Bàn
Theo “Ô châu cận lục” của Dương Văn An, làng Đông Bàn khai cơ lập nghiệp sớm trong 66 xã hiệu thuộc phủ Điện Bàn cũ (Triệu Phong, Thuận Hoá). |
Chuyện xưa kể rằng, lúc bấy giờ nơi đây (Gò Nổi) dân cư thưa thớt, đất trời hoang sơ, núi rừng hiểm trở, các loài thú dữ, chim muông rình rập bao quanh. Tuy nhiên, đất đai màu mỡ, khai khẩn đến đâu gieo trồng đến đó hoa lợi tốt tươi mang lại lương thực, thực phẩm dồi dào. Hằng năm lũ lụt bồi đắp phù sa nên mùa màng thêm bội thu. Nguồn nước sinh hoạt có sông Thu Bồn, ngòi Đông Bàn nên không cần giếng khơi. Song, có một điều sau hàng trăm năm dân làng vào đây lập làng kể từ ngày vua Lê Thánh Tông bình Chiêm thắng lợi (Hồng Đức nhị niên 1471) nhưng dân cư làng Đông Bàn không phát triển mấy, lòng người không yên, có người định bỏ đi tìm vùng đất mới. Lũ lụt mỗi năm mỗi to và dữ dằn hơn như muốn cuốn phăng tất cả... Nước ngập xóm Nam Dương, Tây Hà, nước cuồn cuộn chảy xiết ngập xóm Tây Xuyên, Bắc Tân, Đông Hà, Hòa Bình, đến gần cuối làng, con nước xoáy mạnh xói lở nhiều năm thành bàu rộng đến trên ba mẫu đất (nay còn gọi cánh đồng bàu Lở). Dân làng bàn tính phương cách chống chọi lại với thiên tai, có người ý kiến tốt nhất nên dời khu dân cư ra xa nơi lũ xoáy để tránh tai hoạ. Bàn tới tính lui chưa có kế sách nào khả thi thì vào một đêm các cụ cao niên trong làng ngủ mơ thấy có một vị trưởng lão người quắc thước, râu tóc bạc phơ mách bảo: Dân làng hãy đào ở ngay rốn của vùng nước xoáy ấy một giếng nước mang hình trời đất vừa để lấy nước sinh hoạt, vừa khiến lũ sẽ không xoáy không gây xói lở nữa, đồng thời làng xóm sẽ hanh thông nhiều mặt!. Y lời vị trưởng lão, dân làng Đông Bàn góp công góp sức xây một giếng nước sâu hơn 4,5 mét, phần chìm dưới mặt đất được khép đá hình cung thành giếng tròn (ý biểu trưng là trời), phần từ mặt đất trở lên (thành giếng) được ghép 4 miếng đá vào 4 cây trụ đá, có hai bờ thành đối xứng rộng 2,10 mét và hai thành đối xứng rộng 2,19 mét (biểu trưng là đất). Tại đây dân làng dựng om nhỏ, khắc bia ghi: “Tĩnh tuyền Long mạch Tứ Trụ Đông Bàn tôn Thần”. Tương truyền giếng nước Đông Bàn (còn gọi giếng Bốn Trụ) có hình chữ Tĩnh, nhiều cụ cao niên giảng giải ý nghĩa của giếng Ngũ thường: Phần giếng hình tròn từ đáy giếng đến mặt đất là Nhân, thành bờ giếng phía Đông là Nghĩa, phía Nam là Lễ, phía Tây là Trí và bờ thành giếng phía Bắc là Tín. 4 trụ thể hiện ước muốn hiển đạt khoa danh và cũng là Tứ đức. Từ ngày đào giếng khơi thông long mạch, làng Đông Bàn hưng thịnh. Nước giếng trong xanh, ngon ngọt ngoài sử dụng ăn uống, làng còn dùng nước nầy nấu với các loại gạo từ các giống lúa co, ba trăng, lốc của quê nên cho ra rượu có hương vị đậm đà nổi tiếng. Dân làng Đông Bàn có lệ thường tổ chức lễ rước nước giếng Đông Bàn về cúng lễ Kỳ Yên tại đình làng vào ngày mồng 10 tháng hai âm lịch. Nghi thức lễ rước nước được tổ chức trang trọng. Nước được đựng trong hũ bằng sành đặt trên kiệu do bốn người ăn mặc trang phục kiểu cổ khiêng. Trước và sau kiệu có các bậc cao niên, trung niên, thanh niên, và phụ nữ tháp tùng. Lại có người khua chiêng, đánh trống, người cầm cờ cỗ đi hai hàng dẫn đầu. Lệ tục này thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nguồn nước giếng làng Đông Bàn từng nuôi nấng bao thế hệ con dân của làng, nhiều người trở thành hiền tài giúp nước ích đời lưu lại tiếng thơm muôn thuở. Tiêu biểu như Tiến sĩ Phạm Phú Thứ - Nhà tư tưởng canh tân đất nước nổi tiếng thời Nguyễn. Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ có Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Trọng Nghĩa, Nguyễn Thị Hồng; Ông Đinh Bá Thi (Hồ Đảng), đại sứ đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau 1975) tại Liên hiệp quốc, Tiến sĩ Toán học Phạm Phú Hiển... Trải qua các thời kỳ chiến tranh, vùng Gò Nổi thành vành đai trắng, thế mà giếng nước Đông Bàn vẫn còn nguyên vẹn. Nguồn nước luôn luôn ngon ngọt và đặc biệt nước chưa bao giờ cạn. Giếng hiện tọa lạc tại xóm Hòa Bình, làng Đông Bàn (thôn Tân Bình 3, xã Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam) là một trong các giếng cổ, là di tích văn hóa vật thể quý giá đang được xã bảo tồn phục vụ tham quan du lịch và khảo cổ. Dù đi đâu, ở đâu, nói đến giếng nước làng Đông Bàn, người dân làng Đông Bàn và nhiều người Gò Nổi – Điện Bàn đều cảm thấy rất tự hào!./. Hòa Văn Bài đã đăng dienban.gov.quangnam 11/07/2012 |
BÀI XEM NHIỀU
-
Quảng Nam có nhiều món mắm cho dù mang nó đến bất kể vùng miền nào không lẫn vào đâu được. Đó là nắm cá cơm than, mắm cá nục, mắm cá thính...
-
Chiều cạn Cạn chiều rồi phải không em câu thơ chặt khúc khi đêm ùa về dọc bờ bóng khuất bên tê lơ thơ nhặt phía nẻo quê nỗi buồn b...
-
Tạp văn Thầy giáo Cần Hồi đi học nhiều thầy, cô đặt vào tâm khảm tôi nhiều dấu ấn đẹp và rất đẹp!. Học lớp vỡ lòng ở quê (làng Đô...
-
Tạp văn Ảnh bão Haiyan ở Phi Ảnh bão Haiyan ở Phi Các nước ở bên bờ biển Thái Bình Dương là nơi ít nhiều đều hứng chịu sự hung dữ của bã...
-
TRUYỆN NGẮN HÒA VĂN Ngó lớn bổng rứa chứ tuổi còn “Ăn chưa no lo chưa tới…”. Mẹ tôi hay nói như vậy với các bà bạn hàng xóm. Qu...



