Truyện ngắn, Truyện cực ngắn, Tạp văn, Thơ, Bạn văn, Nhạc, Tranh ảnh, VĂN HỌC NGHỆ THUẬT, Truyện dài

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạp văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạp văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

Hòa Văn: MẮM CÁ CHUỒN BỘT

 


Quảng Nam có nhiều món mắm cho dù mang nó đến bất kể vùng miền nào

không lẫn vào đâu được. Đó là nắm cá cơm than, mắm cá nục, mắm cá thính...
Tính đặc trưng của từng loại đã thành đặc sản, đến nay ai cũng biết, nếu không
nói là đã từng thưởng thức và tấm tắc khen ngon.

Ở đây xin giới thiệu một món ăn, một thời có mặt tại làng Xuân Đài (nay thuộc xã Điện Quang, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).
Một dịp đến thăm bác Văn Đức Đổng (năm 2012 đã trên 80 tuổi), người làng Xuân Đài, trong buổi trò chuyện, bác nhắc đến thân mẫu của bác về tài chế biến các món ăn dân dã và phù hợp với đồng tiền bát gạo ở nông thôn những năm 1940 – 1965. Một trong món ăn mà bác nói ngon, ngon lắm là Mắm cá chuồn bột.

Độ khoảng tháng Ba âm lịch, khi con tu hú kêu rân tu hú tu hú... đó là báo hiệu mùa cá chuồn đang rộ.
Biển cửa Đợi, Hội An nơi từ lâu nổi tiếng luôn luôn có nhiều loại cá biển mà lúc nào cũng tươi và ngon như cá ngừ, cá nục, cá thu, cá sòng, cá chuồn... Lúc nầy dù có bận bịu công việc gì, người làng Xuân Đài cũng dàn xếp, rủ nhau mướn ghe bầu đi Cửa Đại mua cả chuồn. Đặc điểm quan trọng cần lưu ý, nếu mua cá chuồn về làm mắm thì có bị ươn cũng không sao, nhưng để làm cá chuồn bột nhất định phải chọn loại cá trộng con và tươi xanh mới được.
Cá chuồn làm ruột rửa sạch, vớt ra để ráo nước, cắt bỏ đầu cá, sau đó bỏ cá vào hũ sành (không được muối vào hũ đất), muối giống như muối cá cơm than hoặc cá nục. Muối dùng là loại muối hạt to, trắng. Nếu có được muối Cà Ná mua để dành vài ba năm, nay đem ra dùng càng tốt vì loại muối cũ nầy để lâu mất dần chất đắng thường có trong muối ăn. chỉ còn vị mặn tinh khiết, muối mắm càng ngon. Lượng muối theo kinh nghiệm (ba cá một muối), cứ một lớp cá vừa vừa không dày không mỏng rải một lớp muối. Việc muối cá phải nhanh gọn để tránh ruồi bâu vào dễ sinh con dòi trong hũ mắm. Cuối cùng dùng miếng vải dày bịt kín miệng hũ lại, xong đem hũ mắm vừa muối ra nơi có nắng cả ngày phơi liên tục suốt ngày đêm khoảng bốn, năm tháng, đến cỡ tháng Chín, tháng Mười âm lịch cùng năm, xử dụng được. Có một công đoạn để có tên mắm cá chuồn bột phải làm trước khi ăn, là dùng đũa vớt hết xương cá chuồn ra, sau đó ấy đũa bản to (thường hay gọi là đũa bếp), khuấy hũ mắm làm cho toàn bộ phần thân cá chuồn tơi nát ra thành bột màu đỏ sậm, đặc sánh.
Trước đó khoảng tháng Năm tháng Sáu tới mùa thơm (dứa) trồng quanh vườn nhà chín rộ, chọn thời điểm trời tạnh ráo, chọn những quả dứa ngon, gọt sạch vỏ, cắt ra từng khoanh dày độ ba phân, xâu lại thành từng xâu, đem treo phơi nắng tốt cho khô. Đây là phụ gia để bỏ vào hũ mắm cá bột thành phẩm, làm cho mắm dịu bớt độ mặn thêm ngon ngọt, những khoanh thơm ấy
sau khi thấm thóp mắm ăn ngon đáo để.
Khi kể chuyện làm mắm cá chuôn bột. Hai mắt bác Đổng mãi chớp chớp như chực khóc. Bác nói: “Kể chuyện muối mắm tôi nhớ mẹ tôi quá quý anh ạ!”. Còn những người ngồi nghe chuyện, lại chim chíp miệng. Tôi nói chen vào: "Nghe bác Đổng diễn tả cách làm mắm cá chuộn bột, thật công phu và tỉ mỉ, ai cũng phát thèm!”. Bác Đổng kết luận, những ngày mùa đông giá lạnh, những khi không đi chợ, lúc bão lụt, đến bữa cơm, dùng giá múc mắm cá bột vào chén thêm gia vị tỏi, ớt, mắm có hương vị rất thơm. Khi ăn mỗi người tự dùng đũa quẹt từng quẹt mắm nho nhỏ cho vào chén cơm nóng hổi, mà ăn thật ngon.

Ngoài ra khi cuốn bánh tráng thịt heo, bánh xèo (đặc sản Quảng Nam), mắm
cá chuồn bột được pha chế thêm một ít nước mắm nhỉ, trở thành nước chấm ngon khỏi chê!
Nếu làm đúng cách, hợp vệ sinh mắm cá chuồn bột có thể để dành ăn quanh năm.

Hòa Văn
(2012)
-----
Ảnh: Hòa Văn  và Bác Văn Đức Đổng (ảnh bìa phải)

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2023

CHÚC MƯNG NĂM MỚI 2024


 

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2024


Ý

𝙻à𝚖 𝚝𝚑ơ 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 𝚌𝚑ỉ 𝚝ỏ 𝚋à𝚢
𝚅𝚒ế𝚝 𝚟ă𝚗 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 để 𝚗𝚐à𝚢 𝚜𝚊𝚞 𝚕𝚞ậ𝚗 𝚋à𝚗
𝚃𝚛ó𝚝 𝚖𝚊𝚗𝚐 𝚋𝚊 𝚌𝚑ữ 𝚜à𝚗 𝚜à𝚗.
𝚇𝚒𝚗 𝚕à 𝚑ơ𝚒 𝚝𝚑ở 𝚗ồ𝚗𝚐 𝚗à𝚗 𝚝𝚑ươ𝚗𝚐 𝚢ê𝚞
𝚃𝚑ơ 𝚟ă𝚗 𝚝𝚑𝚊 𝚝𝚑𝚒ế𝚝 𝚖ộ𝚝 đ𝚒ề𝚞
𝙼𝚘𝚗𝚐 𝚕ò𝚗𝚐 𝙽𝚑â𝚗 𝙽𝚐𝚑ĩ𝚊 í𝚝 𝚗𝚑𝚒ề𝚞 𝚝𝚛𝚊𝚘 𝚗𝚑𝚊𝚞.

𝙷Ò𝙰 𝚅Ă𝙽
1/1/2024

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2023

LÊ THÍ: ĐÔNG VỀ... NHỚ MẮM THÍNH



     Quê tôi ở phía “nguồn”, xa biển cả mấy chục cây số. Ngày trước đường giao thông, phương tiện đi lại hạn chế. Ngày thường để có được con cá tươi, cá hấp của biển còn khó huống gì ngày đông mưa gió sụt sùi. Vì thế các móm “mắm” như mắm cái, mắm dưa, mắm thính… đã trở thành thực phẩm “chủ lực”, “chính vị”. 

     Xa quê đã mấy chục năm, ngày nay nguồn thực phẩm dồi dào, thịt thà, cá tôm ê hề, nhưng mỗi lần đông về, trời trở lạnh lại nhớ món mắm thính ngày xưa của mẹ!

    Mắm thính là món cá được muối với bột thính. Thính là loại bột gạo hoặc bắp (chủ yếu là bắp) được rang chín cho thơm và giả vụn. Công thức nghe thật đơn giản nhưng muốn có món mắm ngon luôn cần có tay nghề lẫn bí quyết!.


Làm mắm thính

        Nguyên liệu để làm mắm thính là các loại cá gần bờ và chủ yếu là các loại rẻ tiền như cá nục, cá de, cá trích, cá chuồn…Nhiều người vẫn bảo có món mắm thính cá thu, cá ngừ …rất ngon nhưng thực tình quê tôi là vùng “chó ăn đá, gà ăn muối”, cả tuổi thơ của tôi chưa bao giờ được thấy lát cá thu, nói gì đến việc đem loại cá cao cấp này… làm mắm!

    Thường vào khoảng tháng 6, 7 là vụ cá nam, cá nhiều và rẻ, lại gần đến mùa mưa lụt, mẹ tôi thường mua cá về để làm mắm. Trước hết bà làm sạch ruột cá, lấy mang, chặt bớt đuôi, vây cho gọn. Dùng nước muối nấu sôi để nguội rửa sơ qua cá cho sạch rồi để trên rổ cho thật ráo. Xong sắp cá thành từng lớp trong vại sành, cứ một lớp cá lại rắt một lớp muối. Vừa làm bà vừa dạy cho chị tôi, cứ 3 cá, một muối. Ít muối quá cá sẽ mềm, nhiều muối cá sẽ quá mặn. Khi vại đã đầy bà cho một chiếc vĩ bằng tre đậy lên trên và chèm cho thật chặt để muối dễ thấm đều vào cá, xong đậy lại thật kín.

        Khoảng mười ngày sau, cá đã thấm muối, chín và cứng, bắt đầu dậy mùi. Bà cho vớt cá ra khỏi lu, lấy tay ép nhẹ từng con cá để gọi là cho bớt mặn và cho con cá được cứng.

     Quê tôi thính được làm bằng hạt bắp. Mẹ tôi vẫn bảo nếu có gạo hoặc nếp càng tốt nhưng cao cấp qúa. Bắp được rang với lửa củi, lửa không được cháy lớn để cho bắp được chín đều và không bị nổ. Khi bắp chín vàng và có mùi thơm là được. Để bắp nguội đem giã nát nhưng không được mịn quá. 

     Công đoạn cuối cùng là trộn cá với bột thính. Bột thính sẽ bám thành lớp dày quanh con cá. Sau đó đem cá thính xếp thành lớp vào trong lu hoặc hủ chèn thật chặt, lấy lá chuối hơ lửa và mo cau bịt kín miệng hủ rồi đem dang nắng vài tháng là đã có mắm thính để ăn. Trong mấy lu mắm thính mẹ tôi luôn đánh dấu một lu đặc biệt, lu nầy thể hiện bí quyết làm mắm của bà. Đó là việc đổ thêm trong lu một lượng nước mắm có pha nước đường bát đã “thắng” vừa độ tới. Bà thường bảo, loại đặc biệt ni mà ăn vào ngày mưa lũ, giá rét thì … đau gạo, đau cơm lắm! Thế mới biết ngày đó quê tôi nghèo đến mức nào! Thêm có tý nước mắm tí đường là đã trở thành “đặc biệt”, “cao cấp”!.


Ăn mắm thính

Cách ăn mắm thính cũng đơn giản như cách làm nhưng lại món cực kì khoái khẩu.

Ngày đông tháng giá, “bạn biển” (chữ dùng của mẹ tôi) không lên được, hoặc không đi chợ được thì mắm thính trở nên … đắc dụng. Chỉ việc gắp vài con mắm bỏ vào tô đem chưng vào nồi cơm đang cạn. Khi cơm chín thì mắm cũng chín và có thể ăn ngay. Cầu kì hơn (đối với quê nghèo) trước khi chưng vào nồi cơm bỏ thêm vào tô mắm ít tiêu, ớt bột và vị tinh (mì chính), sang hơn thì thêm ít tép mở.

    Mắm thính cũng có thể đem kho, đem nướng lá chuối trên than hồng. Mắm thính kho sẽ làm cho mắm béo (nhờ dầu phụng) và ngọt hơn nhờ đường và vị tinh. Lấy lá chuối gói con mắm lại rồi nướng trên lửa than sẽ có món mắm thính thơm và giòn hơn. Mắm thính quê tôi còn được ăn với rau luộc (lang, muống, cải…).

      Quê nghèo của tôi, món mắm thính chỉ đến mức đó! Thế nhưng những ngày mưa gió, rét mướt bên bếp lửa, bới chén cơm nóng hổi từ trong nồi còn đang vần tro nóng, gắp miếng mắm thính trộn đều, và vào miệng chưa kịp nhai đã muốn nuốt… vì ngon quá, cái ngon mà ngôn ngữ không diễn tả được và sau này khi lớn lên có dip được ăn  nhiều món ngon vật lạ vẫn không tìm được lại cảm giác thăng hoa đó!

       Sau này ra Huế học tôi mới được thưởng  thức món mắm thính cao cấp hơn của dân “quý tộc” ở … kinh đô. Người ta đem mắm thính kho với thịt ba rọi thêm chút mắm ruốc và các loại gia vị “cầu kì” của Huế. Có khi người ta chế biến món mắm thính hấp trứng . Mắm thính lóc hết thịt, bỏ xương, sau đó băm nhuyễn rồi trộn với vài cái trứng vịt đánh đều, thêm ít thịt heo nạc băm nhỏ, dầu và gia vị, sau đó đem hấp chừng 15 phút cho chín. Những món này thường ăn với rau sống gồm khế, chuối chát (có khi thay bằng trái vả), rau thơm. .. Nhưng hình như đối với tôi nó vẫn không có được cái “mặn mà” của mắm thính quê nhà!

                                                                ***

           Biết em ưa móm mắm thính nên mỗi dịp tôi từ Sài Gòn về thăm quê vào mùa đông, lần nào chị tôi ở quê cũng chuẩn bị sẵn mấy đĩa mắm thính để chiêu đãi. Và mỗi lần như vậy chị đều bảo với các con: món đặc biệt dành cho cậu! Nhìn đĩa mắm thính, nhìn dáng chị gầy gò, quê mùa đang tất bật, tôi lại thương chị, nhớ mẹ, nhớ một thời tuổi thơ gian khó, nước mắt cứ… chực trào!.


Lê Thí

Thứ Tư, 14 tháng 6, 2023

Hữu Dũng: NHỚ MÍT TRỘN QUÊ NHÀ

      


     Mấy hôm nay trời oi bức, ngồi lai rai cùng mấy ông bạn già ở gốc mít nhà anh Bè nghe tu hú lảnh lót vọng về khiến lòng tôi nhung nhớ đến thèm thuồn món mít trộn quê nhà.

     Hồi đó, vườn nhà thường trồng ba giống mít: Mit ướt, mít nghệ và mít ráo. Trong đó mít ráo được người làng yêu chuộng hơn cả. Bởi công năng của nó ngoài việc cho gỗ để làm hàng mộc, quả mít ráo được chế biến nhiều món ăn. Nhớ lại những năm thời hoa lửa, ruộng đồng bị bom cày đạn xới, người làng thiếu đói, nhiều gia đình nhờ mít để ấm lòng. Vả lại, thổ nhưỡng ở quê tội phù hợp với giống cây này. Đến thời kỳ cho quả, có cây có đến trên trăm trái. Chúng mọc thành chùm, lúc ngúc khác nào như đàn lợn con vây quanh bầu vú mẹ.


      Mít chín múi vàng ươm, bọng nước thơm lừng. Từ quả mít được đôi bàn tay khéo léo của các chị, các mẹ chế biến nhiều món ăn ngon miệng. Chẳng hạn, qủa mít già bóc xơ đem hông ăn vừa bùi vừa ngòn ngọt. Hột mít luộc chín vừa bùi vừa béo. Mít non dùng để nấu canh, đặc biệt kho với cá chuồn muối sươi. Ở đây mình nói thực lòng nghe: Món dân dã này thì cơm mấy cũng không vừa, khó món ăn nào sánh kịp. Vì vây mà nó được đi vào thi ca đối với người dân xứ Quảng. “Ai về nhắn với bạn nguồn/ Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên”.

     Trong các món ăn chế biến từ quả mít thì người làng khoái khẩu hơn cả vẫn là mít trộn. Nguyên liệu để làm món ăn dân dã này cũng thật giản đơn. Trước hết chọn quả mít non không bi sâu bệnh mập mạp, thịt chắc; rồi dùng dao gọt bỏ lớp vỏ xanh bên ngoài, bỏ cùi bên trong, cắt thành từng miếng bằng nắm tay người lớn. Sau đó đem luộc. Khi mít vừa chín tới, thì vớt ra rổ để nguội, rồi dùng dao xắt nhỏ. Phía bếp đặt chảo khử dầu mà phải là dầu phụng chính hiệu Điện Thắng mới đúng đô. Dầu vừa chín thì nhắc chảo khỏi bếp để nguội, tiếp đến thả mít vào chảo trộn đều cùng thịt heo ba chỉ, muối, bột ngọt, đường, tiêu, chanh, ớt. Nên nhớ món mít trộn mà thiếu rau răm, rau húng và đậu phụng rang thì hương vị của nó xem như mất đi một nửa. Đâu vào đấy dùng muỗng xúc ra đĩa. Để tô điểm đĩa mít trộn thêm phần đẹp mắt, hấp dẫn các mẹ, các chị dùng ớt đỏ cắt tỉa hình cánh hoa bày lên trên.
     Ăn mít trộn là phải ăn nhứ thế này mới ngon: tuyệt đối không gắp bằng đủa, bằng thìa mà phải dùng tay xúc bằng bánh tráng nuớng, nhưng là bánh tráng Phú Chiêm, Điện Phương mới hợp gu. Thưởng thức mít trộn nên ăn từ từ, thong thả mới cảm nhận hết hương vị độc đáo của nó, bùi bùi, beo béo của mít non. Chua chua, cay cay ngòn ngọt của đường, của ớt, của chanh. Giòn dai của bánh tráng, đậu phụng, thịt heo ba chỉ. Mùi thơm dịu ngọt của húng, răm ... nếu có thêm chén đế phụ họa thì càng hấp dẫn, ăn hoài không biết ớn. Do vậy mà món ẩm thực này người làng dủng để thết đãi bằng hữu, người thân đi xa về thăm quê hay các thành viên gia đình đoàn tụ.

     Sau ngày giải phóng, hướng ứng chủ trương xóa vườn tạp, phát triển mô hình kinh tế vườn để thoát nghèo, cho nên vườn nhà ở quê tôi thay dần các loại cây truyền thống. Họ nhà mít cũng chịu chung số phận lần lượt suy tàn. Thay vào đó giống cây mới có tiềm năng kinh tế. Theo đó món mít trộn thưa dần trong mỗi gia đình
     Bản thân tôi cũng có thời ngược xuôi được may mắn thưởng thức nhiều món ăn đặc sản các miền, nhưng đâu cũng không bằng mịt trộn quê nghèo. Đến bây giờ cứ mỗi độ giêng hai, nghe tiếng tu hú, thấy cá chuồn xanh ngời từ biển Địện Dương về khu phố chợ làng là lòng tôi mường tượng hương vị mít trộn như đang lẫn quẫn đâu đây, khiến nỗi thèm thuồng trong tôi trổi dậy và dạt dào niềm cảm xúc lâng lâng khó tả.

H.D

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2022

Hòa Văn: PHẠM PHÚ THỨ SÁNG CHẾ XE ĐẠP NƯỚC, XE TRÂU Ở LÀNG ĐÔNG BÀN


Như nhiều làng quê xưa ở Điện Bàn (Quảng Nam) đất đai tiếng là màu mỡ nhưng dân làng Đông Bàn quanh năm cơ hàn do chỉ sản xuất lúa gieo, trồng khoai trồng sắn... tất cả được mất trông ở trời. Gặp năm hạn hán mùa màng thất bát, năm thuận cỏ dại mọc nhiều hơn lúa nên công chăm sóc nhổ cỏ rất cực nhọc, năng suất trúng lắm cũng chỉ đạt trên 10 ang một sào.

Tình cảnh ấy kéo dài cho đến khi cụ Phạm Phú Thứ - Tiến sĩ, người con của làng, đưa mô hình xe gió ở Ai Cập về quê làm thành xe đạp nước, phục vụ cấy lúa nước, cuộc sống dân làng mới khấm khá.

Đó là vào tháng 6 năm 1863, nhân chuyến đi Pháp và Tây Ban Nha theo dụ vua Tự Đức nhằm điều đình chuộc lại 3 tỉnh ở Nam Kỳ. Hành trình dài gần một năm từ 21. 6. 1863 đến 28. 3. 1864, cụ Phạm Phú Thứ đã học kỹ thuật làm xe "đạp nước" của dân bản xứ ở Ai Cập và khi về nước truyền lại cho dân làng Đông Bàn.

Xe đạp nước được chế tác từ các vật liệu sẵn có tại địa phương. Một bánh vành bằng tre đường kính 10- 12 mét, các thanh tre kết nối quanh một trục ngang gỗ lim hoặc gỗ trầm thị, trên vành tre lắp đặt ống tre một đầu kín cách đều nhau nghiêng theo một chiều 20 độ, các ống tre nầy dùng để múc nước từ dưới ao (hồ), đìa đưa lên mương máng. Hệ thống xe đạp nước đặt cố định trên bờ ao, đìa làm sao cho vành tre quay theo trục ngang khi có lực đạp đều lên thanh tre ngang trên vành, một xe đạp nước và một ao, đìa nước chiếm diện tích khoảng 1 sào đất, thường đặt ở trung tâm cánh đồng để tiện cho việc tưới nước. Trung bình một hồ xe cung cấp đủ nước tưới cho 2 mẫu (1 ha) ruộng.


Sau khi có xe đạp nước hơn 100 mẫu ruộng làng Đông Bàn xưa trở thành đồng lúa nước, năng suất tuy chưa cao (khoảng 25 ang/ sào), nhưng hồi đó đã là tiến bộ đáng kể. Để tính thời gian phiên nước bà con nông dân dùng trục chỉ quấnồìa trục ống tre cắm cố định nối với trục của xe đạp nước. Một chỉ nước (tức là hết 1 trục chỉ) bằng 120 vòng quay (khoảng 1 giờ) thì nước đủ tưới khoảng 1 sào lúa với mực nước ở ruộng trên dưới 1 tấc.
Sau này dân làng Đông Bàn cải tiến xe đạp nước thành xe trâu. Xe trâu xử dụng các thiết bị như xe đạp nước, có thêm 2 bánh xe răng cũng làm bằng gỗ mít ròng đường kính 0,5 mét và một trục gỗ lim (hoặc gỗ trầm thị) dài 7- 8 mét, đường kính 0,25 mét. Hệ thống nầy cài vào cổ trâu (ách trâu) khi trâu đi vòng quanh trên một thửa đất bên đìa (ao); lực kéo của trâu làm cho vành bánh xe nước quay, đưa nước từ đìa lên mương máng tưới ruộng. Năng suất xe trâu nhanh gấp 3 lần đạp nước. Một xe trâu tưới đủ nước cho hơn 5 mẫu ruộng. Cho đến năm 1965, ở làng Đông Bàn có 17 xe trâu và 5 xe đạp nước với đầy đủ hệ thống mương nội đồng.
Từ xe đạp nước, xe trâu ở làng Đông Bàn, về sau nhiều nơi trong ngoài tỉnh Quảng Nam làm theo và trở thành công cụ thuỷ lợi phổ biến phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Ngày nay, trên cánh đồng làng Đông Bàn xưa (thôn Nam Hà 1, Nam Hà 2, Tân Bình 3, Tân Bình 4, xã Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam) còn di tích nhiều ao (hồ), đìa, mang tên của chủ các xe đạp nước, xe trâu như Đìa xe trâu (còn gọi là hồ xe) các ông Hương Hẳn, Thủ Cầm, Thủ Thị, Xã Thành, Hương Triệu, Trùm Cũ, Tư Quán, Cửu Chương, Cửu Thám...
Nhắc lại một công cụ hữu ích: xe đạp nước, xe trâu một thời gắn bó với bà con nông dân, càng nhớ về cụ Phạm Phú Thứ- người con của quê hương Điện Bàn, Quảng Nam với tư tưởng canh tân đất nước nổi tiếng.
Hình ảnh xe đạp nước, xe trâu nếu được tôn tạo đặt ở một vị trí gần khuôn viên lăng mộ cụ Phạm Phú Thứ (ở thôn Nam Hà 1, xã Điện Trung) chắc sẽ góp phần ý vị cho du khách đến đây trước thắp nén hương kính tưởng nhớ cụ, sau thưởng lãm công cụ thuỷ lợi nổi tiếng một thời.

Hòa Văn

 

    

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2020

Hòa Văn: Cái chum

      Tạp văn



      Xưa nay ở quê tôi nhà nào cũng có chum. Chum đúc bằng xi măng dùng để chứa lúa (thóc); bắp; sắn; khoai khô; đường tán... Có thể dùng chum để chứa nước. 

     Thợ đúc chum là thợ có tay nghề kinh nghiệm mới đúc nhanh và đẹp. Nhiều thợ đúc nhiều chum giống y nhau rất đẹp. Muốn đúc một cái chum thợ đúc trước đít chum xong bao ví nan tre chung quanh đổ đất vô nện chặt muốn đúc chum cao bao nhiêu thì đổ đất tới đó rồi tháo dở ví nan tre ra dùng dao gọt cho đất thành cái ruột của chum. Cuối cùng là đắp trét hồ xi măng lên quanh thành cái chum. Dùng giấy bao xi măng lót miệng chum đúc cái nắp chum.
Cả tuần sau xi măng chết cứng mới đào xúc đất trong bụng chum ra. 

Chum lớn nhỏ tùy nhu cầu nhưng phải theo khuôn mẫu đít và miệng chum bằng nhau, miệng có nắp đậy gọi là nắp chum, bụng của chum phình tròn đều. Đồ khô để trong chum sẽ được giữ không bị mốc ẩm. 

      Cái chum sắp hàng ở nhà ngang hoặc chái hai bên nhà, nhà sản xuất nông nghiệp nhiều diện tích đúc nhiều chum...
Mùa nắng ráo thì không gì khi lũ lụt chum bị nước làm nổi lên gặp sóng gió sẽ nghiêng làm đổ đồ trong chum ra nước ướt trôi mất bởi vậy khi nước lụt đến mức nổi chum thì nhận chum xuống nước cho nước vô đầy chum. 

      Hồi lũ lụt Giáp Thìn 1964 ba tôi về nhà mắc lụt đã xử lý các chum không cho chum nghiêng đổ bằng cách múc lưng bớt chum lúa... chuẩn bị sẵn mỗi chum một đàn dây dừa và một đoạn cây dài hơn đường kính của miệng chum đoạn cây này gọi là cây can, cột một đầu dây dừa vô giữa cây can còn đầu dây móc lên rường nhà khi nước lớn chum nổi là kéo dần nâng chum lên. 

       Nhờ làm vậy toàn bộ đồ trong chum ở nhà không bị đổ ướt hư hỏng. 

      Hòa Văn


 

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2020

Gạo Quê: QUÊ TÔI NHỮNG MÙA LỤT

        


              Xóm tôi nằm ở vùng đất trũng; mỗi lần lụt, nước băng qua đường cái, chảy vườn nhà tôi trước. Sâu dưới lòng đất, lớp bùn đen - dấu tích con sông xưa. Vùng đất này sông chằng chịt rất rõ nét.

 Sông chết dần theo thời gian rồi xóa sạch bến bờ, chỉ còn lại những con sông chính; bây giờ sông cái cạn dần. Sông cạn, đời cũng vơi như sông, lòng tôi cỏ mọc đôi bờ thương nhớ! 

 Mẹ tôi thường nói: “Nhà mình cóc đái có nước”, mỗi năm gánh chịu nhiều trận lụt. Có năm nước tràn vô liên miên, chỉ cần dọn trận lụt đầu, cuối mùa mới chuyển đồ đạc xuống đất. Trên gác, nơi mùa lụt trú ẩn, ba tôi chừa một cửa sổ nhỏ, vừa để nhìn ra vườn, vừa làm cửa thoát hiểm phòng khi nước lên chấm gác. Anh Hùng tôi hay thò người qua cửa sổ quan sát nước lớn: “Nước ngập Tiền Tự, Gò Muống rồi!” nghe giọng anh như thể tin quân chiến thắng trở về. Tôi nhỏ quá không được chui ra đó, ức lắm! Mãi nhiều năm sau, tôi mới cấp quyền sử dụng cái “vọng lâu” ấy. 

 Khi nước sông mới dâng, người lớn kéo nhau đi vớt củi, kéo cá chật cả bến sông. Con nít chúng tôi đi theo đứng nhìn say sưa lắm! Những lần nước ngập bàu Hồng, nước lên tới ngõ bà Hai Thảo, bọn con nít tụ tập ở đó; đứa câu cá, đứa cắm cây canh chừng nước lớn. Cảnh bèo bọt trôi nổi lềnh bềnh, mùi nước bạc tanh tanh sao mà thân thương quá!

Khi nước chảy vườn, hạnh phúc như chờ đợi quanh đây. Mưa gió ít, nước lớn chậm; tôi cầu khẩn đất trời sao cho nước mau đóng mái thềm, tráng nền, lút giường, băng cửa sổ, ngập bàn... bị mẹ tôi la: Răng mà dại quá!

Mỗi mùa lụt, người lớn lo lắng than phiền, còn bọn trẻ con chúng tôi vui như cá đồng ức nước. Cứ thấy trời mưa to gió lớn là lòng rạo rực, thế nào nước sông cũng dâng lên. Những đêm nước lớn khó lòng chợp mắt, sáng ra dậy thật sớm xem nước chảy vườn. Cũng có lần cả nhà ngủ quên, nước vô trôi dép mới hay.

Cảnh dọn lụt rộn ràng háo hức. Cả nhà cùng nhau, chẳng cái gì để lại trên nền nhà, nên quê tôi có câu: “dọn như dọn lụt”. Âm thanh gọi nhau í ới từ nhà nọ sang nhà kia, hỏi thăm mực nước, dọn lụt tới đâu rồi. Ông Ký xóm sau nhà tôi hay đùa: “anh Bốn ơi! Nước lút con tơm chưa?”. Con tơm của ông Ký ngụ ý nói tục, tiếu lâm; thật ra là cái đà kê bộ phản ngày xưa, đế lận cong cong hình con tơm (Tôm). Bầu không khí dọn lụt ấy, giọng điệu hài hước ấy, tình cảm láng giềng ấy và tâm hồn trẻ thơ ngày xưa buộc vào nhau như đòn bánh tét ngày xuân; nếp, nhưn, dây, lá sùng sục sôi suốt năm tháng tuổi thơ mỗi mùa nước lớn.

 Một lần nước lớn nhanh, bầy gà nhà tôi đi ăn ở đồng trước không về kịp, có những con kẹt lại trên những vạt khoai chói, khoai từ, ba lội ra bắt về. Lần đó tôi bị mất con gà mái tơ có bộ lông xám, to mập sắp kêu ổ. Đó là con gà mẹ tôi cho làm vốn, nuôi lớn bán lấy tiền mua sách vở. Tôi chăm nó theo chế độ sĩ quan đặc biệt. Mỗi ngày nó ăn gạo thóc, châu chấu, cào cào, trùn, nhái... Lúc còn nhỏ, tôi hay lận gà con vào bụng những khi trời lạnh, nó thích lắm nằm im, thò cái đầu nhỏ qua kẽ hở giữa hai hạt nút áo. Ở nhà tôi đi đâu, nó cũng đi theo. Nó biết cảm nhận tình yêu con người.

Nó mất tôi tiếc lắm, nhưng thấy tình thế gay go, chẳng thể tìm đâu ra. Nước ngập sâu đến bụng nên đành cho qua.

Tôi và anh Đẩu say sưa trò câu cá cấn. Ngồi ngay bực thềm đất nhà bếp, có khi anh tôi kê cái bàn giữa sân ngập nước, thả câu ngay trong hiên nhà. Thích thú mỗi lần giật được con cá cấn nhỏ xíu, mừng như gà mổ được dế. Mẹ tôi mắng: Mất con gà không tiếc răng còn zui rứa bây?

Ở nơi thấp lụt, nhà nào cũng có chiếc ghe nang, hễ nước ngập nhà, lút hai cái giường chồng lên nhau thì đặt bếp xuống ghe. Bếp kê bằng cái mâm nhôm, lót tro, bên trên đặt ông kiềng sắt ba chân. Mẹ tôi thủ bao gạo và hủ mắm cái, chỉ cần chừng ấy thôi là yên chuyện. 

 Một lần nước ngập nhà, dòng nước chảy qua cửa sổ mang theo hai con chim cút ướt cánh nằm co ro phó mặc cho đời. Anh Hùng phát hiện bắt lên, mẹ tôi rô ti, mỗi anh em được vài miếng. Ba mẹ không ăn, nhường cho con cái. 

Tôi nhỏ - út nhà được thêm một miếng, ngon đến tận cùng cái ngon!

Lần này nước ngập nhà lúc nửa đêm, dọn đồ đạc vừa xong, tôi hối thúc ba bơi ghe qua nhà bác tôi cách một cái vườn rộng phía sau. Trời còn chưa sáng, ba không chiều ý, tôi khóc hu hu... sốt ruột. Một hồi sau đó, thấy tôi khóc không nín, ba đội nón cời mặc áo mưa, tôi ngồi gọn lỏn trước mũi ghe, chỗ thích nhất, được ba chở đi hân hoan như ếch nhái phải cơn mưa rào.

Bơi ghe thì đứa con nít nào chẳng thèm. Những năm trước, nhà tôi chưa đan nổi chiếc ghe, ai cho đi nhờ mừng quên cả đói. Nghe âm thanh lộp cộp từ chiếc dầm gỗ quẹt vào be ghe theo từng nhịp chèo hay hơn cả bản nhạc Tây, nhạc Tàu không rõ ất giáp.

Mỗi lần bơi ghe ra đồng, khung cảnh mùa lụt mới lạ quá! 

Nước khiến không gian đồng bãi trở nên gọn gàng. Bao nhiêu cái luộm thuộm bị chìm sâu trong nước, chỉ còn một mặt phẳng màu vàng đục lặng lờ trải rộng, hòa cùng màu xanh cây lá bị nước ngập đến nửa thân; những con cò trắng muốt về đậu ngọn cây, mưa bay lất phất, gió từng hồi làm tôi say mê quá đỗi. 

 Lụt lớn là cơ hội thăm hỏi nhau như ngày tết. Ba cầm lái, anh Đẩu tôi bơi mũi, băng vườn sau, ra cánh đồng Gò Muống, xuống An Trường thăm cô dượng Phẩm cùng bà con trong làng. Bơi ghe không như đi xe đạp. Bơi lối nào cũng được, ở đâu ngập nước cứ việc chống chèo, chỉ ngại mấy cây trụ rào nước khỏa lấp như cái cọc ông Ngô Quyền thì nguy. Ghe đi trong xóm, cành cây cọ vào thân ghe “rọt rọt” vui tai lắm!

Mùa lụt năm đó tôi và anh Đẩu bơi ghe ra Gò Ba bắt dế. Song song ghe hai anh em tôi là ghe Cô Thứ chị, Thứ em. Tôi ham bắt dế nhưng không bao giờ bóp đầu nó, cứ bỏ vào thùng. Hôm đó cô Thứ chị bắt được con nào bóp đầu con đó ném qua ghe tôi, con nằm ngửa chân càng co giật, con nằm sấp ngay đơ. Anh tôi thấy lạ hỏi: “Sao cô không lấy mà cho tôi?” Cô Thứ chị nói rất thật thà: “Bữa ni mồng một, nhà cô ăn chay” Anh tôi cười hí hí, còn tôi thấy cô nói có lý, sau về nghĩ lại cười suốt cả tuổi thơ. Dế bắt về ngắt đầu, rút ruột, lặt chân bỏ vô nồi kho. Tôi ăn bữa đầu tiên, bữa sau nghe mùi cỏ trộn trong mùi dế tanh tanh rợn cả người. Từ đó không còn ham trò bắt dế nữa.

Mùa lụt đứa nào cũng đóng bè chuối, dù nhà có ghe. Dầm mình trong nước đục chẳng biết dơ dáy là gì, cái ham thích đánh tan cái lạnh. Nước bạc tê cả người, vậy mà con nít giầm từ trưa tới chiều, khi nào môi thâm tím, răng hàm đánh cầm cập, người run đụi đụi, mới để cái lạnh thắng cái ham vui. Ngày sau lại đẵm tiếp, cha mẹ thấy con trẻ háo hức quá, la cho có lệ. 

 Chuồng bò nhà tôi không được đắp cao nên mùa lụt ba dắt bò xuống gửi chuồng nhà ông Cường già. Ngày ba lần theo ba rút rơm, bơi ghe cho bò ăn. Mùa mưa lụt không có cỏ tươi, nhìn những con bò bị cột trong chuồng nhai rơm khô rất ngon lành, thấy thương!

Có những mùa lụt kỳ lạ lắm. Nước lớn rất nhanh rồi ngưng lại ngâm hoài không rút. Người lớn nói “bị hàn cửa biển”, tôi không hiểu gì, cứ tưởng tượng biển Cửa Đại bị ai đó đóng. Trời quang mây tạnh, trăng sáng vằng vặc, mọi người bơi ghe đi chơi xóm nọ qua xóm kia, làng này qua làng khác, đông vui như ngày tết.

Nước lớn một ngày một đêm tròn cữ thì ngưng, có khi dữ trời mưa to gió lớn, ông trời cho thêm cữ nữa, người lớn lo sợ, con nít vui mừng. Đến khi hết lụt, con nít buồn như nước ra. 

Lụt xong sợ nhất cảnh dội bùn non. Có năm bùn đọng trong nhà cả nửa gang tay, phải dùng trang ban đất mà kéo. Thường thì nước cạn xong trời có cây mưa, gọi là mưa dội bùn. 

Lúc nhỏ tôi thắc mắc hoài, sao ông trời biết điều đến vậy? Ổng biết ở nhân gian chỗ nào có lụt vừa xong thì làm mưa. Tôi cố để ý xem có thật vậy không; đúng thế, cứ lụt xong là có cơn mưa. Mưa trôi bùn non đọng trên cỏ cây, nếu không cây cối sẽ chết khi nắng lên, gọi là “nắng mới”. Khi nào không thấy mưa, mẹ tôi nói “trời còn lụt tiếp”, chẳng biết đúng hay sai. 

Sau một trận lụt lớn, xóm làng tiêu điều quá! Nhìn đâu cũng thấy màu bùn đất, cỏ rác mắc đầy bờ rào, cây cối. Những bụi cây bị nước ngập giờ đây buồn thiu không còn sức sống, phải mất mấy tuần mới hồi sinh. Có khi chưa kịp ra chồi đã chịu trận lụt mới, cây bị vùi dập như thể trời đè. 

Xóm làng dơ dáy, đi đâu cũng phải xách dép. Nhà hồi đó phần lớn nền đất, sang hơn là lót gạch thẻ. Nước ra phải đầm tro; tro làm ráo nền, tro tạo màu đen xám. Mùa nắng anh Tài con bác tôi thích cởi trần nằm lăn trên nền đất mát lạnh, mát hơn nền gạch men bây giờ.

Mẹ tôi thường nhắc, mỗi lần lội nước lụt xong phải rửa chân bằng nước giếng, nếu không muốn Cù lìa. Ngày trước mẹ tôi hay dùng những từ vô cùng hình tượng, nhiều từ tôi quên không nhớ, tiếc lắm. Chữ “cù lìa” nghĩa là bị nước ăn chân, lỡ loét như người bị phong cùi. Tôi quen quá tiếng đó những ngày nước lụt. 

 Mùa nước năm ấy tôi học lớp mười một, lớn lắm rồi, không còn con nít nữa. Ngồi một mình ngắm cảnh nước ngập nhà anh Dư bên cạnh, gần chấm mái tranh, trời nắng đẹp. Tôi say sưa vẽ bức tranh “Ngày lũ”. Tiếc quá! bức tranh ấy bằng bút chì, bị lạc mất đâu rồi.

Qua mùa lụt, hết mùa mưa, nước còn đọng trong các ao hồ, mỗi đứa một chiếc cần, đào trùn làm mồi câu cá. Nhiều hôm cả làng vác nhủi đi xúc cá, tôm, ghẹ, ốc. Đợi một thời gian nắng gắt, nước ao hồ sắp cạn, người lớn xúm nhau ngăn bờ tát cá. Mỗi lần như thế, con nít đứng đợi trên bờ đông lắm, chờ người lớn cho “bắt hôi”. Có khi được con cá tràu to chui rúc trong hang hốc, mang về khoe cả làng.

Sau này tôi nghĩ người lớn nói hơi quá, báo đài hay than thở chuyện lũ lụt miền Trung, nghe sao thương lắm! Sự thật đâu phải thế, sự thật cất giấu trong lòng những đứa trẻ quê tôi. Bạn không tin thì về quê tôi mùa lụt, ngồi trên mái nhà, ăn khoai lang xéo đậu đen, uống nước mưa, nhìn con nít háo hức, hạnh phúc cỡ nào. Người lớn quên mình từng là con nít, nên đánh mất gia tài hạnh phúc. Nếu quê tôi bốn mùa nắng ráo thì tuổi thơ như vầng trăng khuyết chẳng bao giờ đầy. 

       Nhớ lại ngày thơ bé, hình như những niềm vui đơn giản con người ta ngày càng đánh mất. Tôi ngờ rằng thiên kinh vạn quyển, ngàn triết gia không níu nổi đời. Đời trôi như khúc gỗ mục giữa dòng sông mùa lũ ngày ấy. Không biết đời có như khúc gỗ trôi đến gần cuối con sông thì dần chậm lại, lững thững ra biển? Hay ta níu đời ta chậm lại, chậm lững thững như khúc gỗ nơi cửa sông, để mất hút trong cái mênh mông khôn cùng! 

 Gạo Quê

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2019

Hữu Dũng: THƯƠNG LẮM CHỢ LÀNG












Chợ Vải hay còn gọi là chợ Cũ, nằm cạnh bến sông (nay thuộc thôn Thanh Quýt  5) xã Điện Thắng Trung, Điện Bàn, Quảng Nam. Chợ Vải có mặt ở làng tôi ( làng Thanh Quýt) tự bao giờ?

Thực hư thế nào tôi không rõ, theo các bậc cao niên kể lại: Chợ Vải hình thành do bà Vải. Bà Vải rất giỏi giang nghề canh cửi. Bà dạy cho dân làng làm bông, kéo sợi. Tiếng lành đồn xa, chị em các làng phụ cận đến đây học nghề và giao lưu sản phẩm may mặc, theo đó mà thành chợ. Nhớ ơn công đức, sau khi bà mất, dân làng đặt tên là chợ Vải và lập Miếu thờ. Hàng năm ngày đầu xuân, dân làng tổ chức tế lễ và tổ chức hát hò khoan đối đáp tại sân miếu.  Đây là chợ duy nhất của làng bấy giờ.  

Chợ Vải chỉ họp phiên buổi sáng, buổi chiều đông dưới quốc lộ 1A. Người mua, kẻ bán không chỉ người trong làng mà các làng phụ cận như: Điện Hòa, Điện Ngọc, Điện An… .  Bến sông đầu chợ ghe thuyền tấp nập từ thượng nguồn xuôi xuống, Hội An, Chợ Được (Duy Xuyên) ngược dòng đỗ bến và mang hàng hóa, sản phẩm địa phương để  bán mua, trao đổi. Trên bến dưới thuyền sầm uất, đông vui.

Chợ Vải không tường xây, mái ngói. Hai dãy lều lúp xúp, mái lợp rơm rạ. Trong lều đặt chiếc sạp làm bằng tre, trưng bày các mặt hàng, từ cây kim, sợi chỉ, mắm muối đến cân lợn, mớ rau… phục vụ cho dân nghèo.

Chiều đông, vắng người, đến chợ Vải mới cảm nhận hồn làng, tình xứ sở thân thương, dịu kỳ đến nên thơ. Bến sông sóng nước nhấp nhô vỗ bờ. Những mái lều phất phơ, lẫy bẫy; mẩu lá chuối khô vương vãi nâng mình lã lơi theo từng cơn bấc buốt da giữa không gian ảm đạm, êm đềm… như bức tranh quê mộc mạc, yên bình, khiến lòng người man mác, nao nao.    

 Chiến tranh tràn về, chợ Vải cùng đồng cam cộng khổ với dân làng và chứng kiến bao cảnh thăng trầm thời cuộc. Trong  đó, hình ảnh người thiếu niên quả cảm Nguyễn Đức Quýt Em liệu ai còn nhớ hay đã quên…?.

     Sau khi bắt bị tra tấn một cách dã man, bán sống, bán chết, Quýt Em quằn quại dùng sức lực yếu ớt của mình, cố lê lếch ra phia bờ sông đầu chợ ẩn náu. Do không ai băng bó, một đêm đau đớn, vết thương ra máu quá nhiều nên Quýt  Em vĩnh viễn ra đi ở tuổi trăng rằm để lại bao niềm tiếc thương vô hạn của dân làng và đồng đội. ( ghi theo lời kể của đồng đội)

Và biết bao kỷ niệm vui buồn của bao người đối với chợ Vải. Bây giờ chợ Vải không còn, vắng đôi tay thoăn thoắt, dịu dàng của bao thôn nữ dệt bông, kéo sợi. Bến sông hiu hắt, chạnh buồn. Tiếng ồn ã, nói cười tan vào thinh không. Chỉ còn lại bao niềm hoài cổ nhớ nhớ, thương thương hình bóng chợ làng xưa cũ. Ai một thời đến chợ làng được mẹ mua nào kẹo ú, kẹo mè, keo cau… bơ bở của bột, cay cay của gừng, ngọt lịm của đường thấm tan trên đầu lưỡi mới yêu Chợ Vải biết ngần nào !?.








https://hoavanruotra.blogspot.com/2019/10/huu-dung-thuong-lam-cho-lang.html?m=1

Hòa Văn: MÊNH MÔNG CHI XỨ







NƯỚC MÊNH MÔNG CHI XỨ



Tôi nghe câu này khi lên chín lên mười và chỉ nghe vậy thôi chứ không thắc mắc tại sao người quê tôi Gò Nổi - Điện Bàn, Quảng Nam lại nói như thế khi thấy nước lũ lụt đóng thềm nhà.

Tức là cả làng cả xóm trừ nền nhà ở còn lại lũ lụt đã ngập hết.

Khi viết bài thơ Ký ức lũ tôi định đưa "mênh mông chi xứ" vô nhưng không được tôi chỉ viết:

...

"Lũ về chìm nổi

Mênh mông mênh mông...

Trong xóm ngoài đồng

Gánh gồng gian khó

Tối lửa tắt đèn

Có nhau"

...

Mới đây gõ cụm từ "mênh mông chi xứ" vô google chỉ có duy nhất bài đăng trên báo Thừa Thiên Huế mới biết À Gò Nổi mình là đất tiên tổ xứ Thanh - Nghệ... vào khai cơ lập nghiệp cách nay 548 năm ông bà đi mang theo thổ ngữ ví như hói là lạch nước, và mênh mông chi xứ...

Thổ ngữ đẹp quá!.

H.V











          







 MÙA CÁ NHẢY



TTH - Thường thì giữa tháng 9 dương lịch, khi những cơn mưa đầu mùa đổ xuống xối xả tràn đầy mấy cái hồ trong xóm thì dân xóm lụt nơi tôi ở gọi nhau i ới là mùa cá nhảy đã về. Bây giờ ở lâu thành quen, đến mùa tôi cũng mang thau đi nhặt cá nhảy như mọi người.











Nhớ mùa đầu tiên đến ở xóm này tôi không hề biết điều đó. Chỉ nhớ sau mấy ngày u ám, mưa to gió lớn, một sớm mai thức dậy đi làm. Tôi thấy nước lênh láng đầy đường xóm mà ngao ngán. Có nghe đài hay báo nói lũ lụt gì đâu mà trước sân nhà, rồi quanh vườn và cả xóm ngập chìm trong nước. Bây giờ mới thấm thía vì sao họ gọi vùng đất này là xóm lụt. Trước đây khi quyết định mua đất ở xóm nhỏ này, tôi nghĩ khá đơn giản chỉ cần làm nền cho cao thì mọi sự không liên quan chi đến mình. Hóa ra người tính không bằng trời tính, mưa thì mới mấy trộ, không nghe đài báo nói chi về lụt, vậy mà quanh xóm đâu cũng có nước. Cái này người ta quen gọi là nước ứ, nước ngập ở những vùng trũng, hay còn gọi là ngập cục bộ.



NƯỚC MÊNH MÔNG CHI XỨ (*) như vậy nhưng cũng phải đi làm, nguyên lội ra cho hết cái xóm này thôi cũng đủ làm xe chết máy và xâm xoàng vì hai cẳng chân như muốn dị ứng vì nước dơ. Chưa hết bàng hoàng vì sự tình dân xóm lụt, với ý nghĩ hèn chi xóm ni không giàu nổi thì thấy nơi cái hồ cạnh nhà nhiều tia nước vọt lên cao mà giật mình. Định thần nhìn kỹ, hóa ra nhiều con cá quăng mình, nhảy tanh tách từ mấy cái hồ lên mặt đường và chúng trườn mình trong nước. Nhìn kỹ chỉ thấy toàn cá rô, những con cá có màu xám đen, kỳ rất sắc. Cứ nghĩ lũ cá rô chắc thấy nước mát búng mình lên dạo chơi rồi mắc cạn nên lần lượt từng con một tôi ném chúng xuống hồ. Vừa chạm xuống mặt nước mấy con cá rô đẹn trùi trũi lại nhảy lên, búng mình ra đám cỏ ven bờ rồi trườn mình ra lối đi, có con may mắn hơn nhảy sang ao hồ bên cạnh. Thôi thì đã thương cố thương cho trót, tôi lại ném chúng xuống hồ lần nữa và chúng lại tiếp tục nhảy lên. Lần thứ ba này tôi không đủ kiên nhẫn để trả chúng về với thiên nhiên mặc dù chúng đã có màn chào sân lý thú như vậy, tôi đem tất cả số cá mình lượm được bỏ vào cái thau và tạ ơn trời với màn bất chiến tự nhiên thành.



Chuyện sáng ra nhặt được bầy cá rô béo ngậy làm tôi suy nghĩ, chắc cá nhảy lên bờ để sinh đẻ đây? Mà cũng có thể là điềm lành gì đây? Chưa hết băn khoăn thì thấy mấy nhà trong xóm cũng ra nhặt cá, họ cười nói râm ran như quên đi bao phiền toái của chuyện hậu lũ lụt khi rác rưởi tấp đầy xóm.



Mấy con cá rô chỉ nhảy lên bờ vài hôm đầu rồi thôi. Thì có còn cá nữa đâu để tái diễn màn ngư ông đắc lợi. Giờ thì tôi đã hiểu cá rô chỉ đẻ vào tháng 4, chúng có tập quán di cư từ hồ này sang hồ khác bằng cách búng mình lên như thế. Qúa trình ấy của đám cá rô xóm tôi đã không thành vì cả xóm ai cũng trông chờ mùa nước ngập này để tóm chúng. Khỏi phải nói cảnh đi nhặt cá trong xóm đông vui đến chừng nào, ai cũng thấy mình may mắn khi không mà có cá ăn. Ôi hạnh phúc của cư dân xóm lụt này tưởng như chưa bao giờ gần gũi đến vậy.



Năm nay mùa mưa đến muộn. Mấy cái hồ trong xóm tôi đang vào tình trạng thiếu nước, không biết lũ cá rô trốn mình đi đâu trong đám rong rêu gần như trơ tận đáy này. Đến đầu tháng 12 dương lịch mới có những đợt mưa đầu tiên. Dạo này đường xóm được nâng cao mấy tấc nên đám cá nhảy lên bờ nằm phơi mình trên mấy bụi cỏ xâm xấp nước. Cả xóm xắn quần đi nhặt cá. Những con cá rô chiên giòn chấm với nước mắm chanh tỏi sao hấp dẫn lạ. Có nhà là bữa cơm ngon lành hứa hẹn, có nhà là buổi mưu sinh cho qua ngày đông. Dẫu sao mùa cá nhảy với tôi đang là điều gắn liền với nơi tôi sinh sống, là cái xóm lụt nghèo có mùa cá nhảy buổi đông về...



Nguyễn Thị Nguyên Hương



-----

(*): Chữ In hoa là do H.V vi tính lại. Nguyên bản chữ thường.

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2019

Hòa Văn: Lá chuối sứ





Ngày xưa lá chuối sứ chỉ xử dụng mỗi năm nhiều nhất vào ngày mồng 5 ngày tết Nguyên đán mà nhà nào ở quê cũng có dăm ba bụi chuối này nên đa phần nhà ai nấy dùng có khi cho nhà trong xóm cùng dùng để gói bánh tét, bánh rò, bánh chưng, nem chả, bánh ú tro...
Bây giờ khác rồi! Cây chuối sứ ngoài cho búp, trái làm rau ăn với nhiều món như thịt bò thui, thịt gà, mì Quảng.... cây chuối sứ còn cho vài ba tháng một đợt lá. Lá chuối ở quê thông qua các người chuyên đi mua bán lại cho các đầu mối các chợ rồi được chuyển đi đến nơi chuyên gói các loại bánh và cả thay bao bì nilon gói hàng thực phẩm...
Đã có cầu nên có cung, nhiều nhà ở quê nay trồng thêm chuối sứ. Mỗi khu vực có vài ba người chuyên đi mua lá chuối, có khi cả vợ liền chồng cùng làm nghề này.
Giá mua tùy theo vụ như tết, lễ,... giá nhích lên còn bình thường cứ tính gốc chuối và độ tốt xấu của lá chuối mà ước lượng mua bán, thường thường mua hóa như vậy mới có lời. Sau khi thỏa thuận giá cả xong người mua dùng cây sào có cột cái dằng làm dụng cụ giựt lá chuối, giựt xong vườn nhà nào thì gom đống lại
rồi rọc lá xếp cuộn cột từng xấp từng bó gọn gàng. Mỗi bữa mua năm ba nhà như vậy đến chạng vạng chở về nhà sáng mai chở đi bán chiều tiếp tục đi mua...
Mua hóa giá nhưng bán theo ký mà giá lá chuối cũng khá ổn định đồng thời hiện ngoài gói bánh truyền thống, thực hiện bảo vệ môi trường lá chuối còn được nhiều nơi xử dụng thay cho bao túi nilon gói hàng nên nghề mua bán lá chuối đắt hơn giúp cho nhiều người ở quê cải thiện cuộc sống. 




Hòa Văn

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2019

Hòa Văn: Từ tâm





1. 

Tới chừ làng Cẩm Đồng còn nhớ chuyện: 

Hồi năm 1975 khi chiến tranh vừa kết thúc ai ai cũng thi nhau khai hoang vỡ hoá để có đất sản xuất. Cả biền bãi mé sông Thu Bồn ở đây mới có lưng nửa tháng đã sạch cỏ tranh; lau bói. Thế mà trong thửa đất hơn hai sào của ông Liêu lại có một chòm lau bói đứng chơ vơ...



 Ông An cuốc đất kế bên hỏi:

 “Chứ ông để mần chi?”.  



Vuốt những giọt mồ hôi trên tráng xong ông Liêu nói: 

 “Bên trong nớ có một tổ chim!”.

  

 Một thời gian sau từ nơi chòm lau bói có ba chú chim non chập chững tập chuyền!. 



 2. 

Xa quê Gò Nổi vô Sài Gòn từ những năm 60 nay ở tuổi “cổ lai hy” ông Trí vẫn không quên các chú chim chóc một thời trai trẻ từng thấy từng biết và ham thích... 

 Bởi vậy khi anh con trai của ông xây căn nhà mới ông đề nghị: 

“Con cho ba tầng thượng để nuôi chim...”.  



Sau hơn hai năm ông Trí mua hàng tạ thóc, đậu, mè, ngày nào cũng mang lên sân thượng tỉ mẩn rải... đến nay có hàng trăm... con chim đủ các loại không rõ từ đâu thường xuyên bay đến vui đùa với ông Trí như bạn thân trên sân thượng!. 

Quả là từ tâm./.



 HÒA VĂN

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018

Hòa Văn: GIÁ NHƯ... 12 truyện cực ngắn














1. GIÁ NHƯ...
NGƯỜI XỨ QUẢNG TRUYỀN TỤNG MỘT CHUYỆN.
RẰNG XƯA ĐẠI QUAN HỌ HOÀNG CẢ ĐỜI HẾT LÒNG VÌ NƯỚC VÌ DÂN, KHI TỔ QUỐC AN VUI THÌ LIÊM CHÍNH, NGUY NAN THÌ HY SINH ĐỂ LẠI   TIẾNG THƠM MUÔN THUỞ.
   Sinh thời bà mẹ(*) Đại quan một mực thương yêu chồng con, sớm hôm tần tảo hái dâu nuôi tằm, làm ruộng ngay tại quê nhà. Vốn chất phát nhân hậu bà từng căn dặn con cái lúc nhỏ lo học hành, lớn lên có làm gì cũng phải giữ đạo nhà phép nước, sống giản dị. Khi nhậm chức quan bà căn dặn Đại quan phải liêm khiết, làm điều ích nước lợi dân. Đó là hiếu là thảo với mẹ với cha.
   Một hôm Đại quan họ Hoàng gởi về kính tặng mẹ một tấm áo bằng lụa để tỏ lòng hiếu thảo.
Cầm áo vải óng mượt đẹp chưa từng thấy dù đây là sản phẩm có một phần công sức của người nông dân dãi dầu mưa nắng như bà góp phần làm ra nó, bà trầm ngâm suy nghĩ rồi lụi bụi xách dao bầu ra biền chặt một cây roi dâu cuộn tròn lại gói chung với áo lụa nhờ người mang đến đem trở về trả lại cho con.
   Đại quan họ Hoàng nhận lại tấm áo trong đó có cái roi dâu hiểu ngay lời của mẹ gởi gắm...
   Ngày nay, giá như...
   Giá như!.
(*): Đây là người mẹ Gò Nổi- Điện Bàn, Quảng Nam thân mẫu của cụ Hòang Diệu.





2. VƠI
   Ngày thường sống với đứa cháu nội lên mười, ba ngày tết nhà lão Vy có thêm vợ chồng hai đứa con trai, vợ chồng đứa con gái bởi vậy không khí gia đình vui hẳn lên.
   Tự nhiên đang ngồi quây quần chuyện trò vui vẻ lão Vy buột miệng: “Bao giờ trở lại... “Tết xưa!””.
   Con trai; con gái; dâu; rể lặng lẽ nhìn cha. Bảy đứa cháu ngoại; cháu nội ở xa về nhìn nhau... lặng im.
   Đứa cháu nội lên mười thưa: “Con thấy trong tủ lạnh, rồi trên các tủ gỗ quanh nhà bếp nhà mình quá trời đồ ăn thức uống. Còn như nhà bà A gần bên con nghe nói hộ nghèo mà tết đến bà sắm lũ  củ nào là thịt heo bánh tráng, kẹo mức mà ông?. Chẳng lẽ tết ngày xưa giàu hơn hở ông nội?”.
   Nhìn ra sân... Nắng xuân trải sắc vàng rực rỡ trên từng bông mai, bông cúc đang nở rộ... Xuân về Tết tới đúng chu kỳ thiên nhiên, vật chất mỗi năm mỗi thêm lên nhưng cứ thấy thiếu thiếu điều gì...
   Lão Vy uống thêm ngụm trà ngồi ngẫm nghĩ... "Nét đẹp ngày tết... vơi dần!".

3. ÔNG TRUNG TRUNG
   Hồi nhỏ tới tết tôi ưng nhất là được lì xì. Được lì xì năm đồng, mười đồng, có khi là cây kẹo, cái bánh... cũng vui thôi chứ chẳng nghĩ nhiều ít!.
   Giờ khi đã “thất thập cổ lai hy” tôi thấy trẻ con cũng ưng lì xì mà lì xì nhiều mới thích!.
   Bởi vậy hôm đến thăm một ông bạn, nhà đang có cậu em út dẫn theo đứa con gái lên mười đang trò chuyện tết...
   Đứa bé lên mười vừa hớn hở săm se các bao lì xì vừa nói rành rọt:
   - Cái ni của ông lớn nề! Cái ni của ông nhỏ nề!
   Thấy tôi không hiểu chị vợ ông bạn giải thích “Nó nói ông lớn là ông lì xì cho nó năm chục ngàn đồng, ông nhỏ là lì xì chỉ có năm ngàn đồng, còn lại là ông trung trung!”.

4. CỔ LỖ XỈ!
   Chiều hai mươi chín tết tôi đến nhà sách Sơn Hải ở thị trấn V. tìm mua một cây bút lông loại ngày xa xưa các ông thầy đồ dùng viết chữ Nho.
   Tiếp tôi là cô gái khoảng mười bảy; mười tám tuổi khá xinh cô đang học hành ở xa nay về ăn tết.
   Tôi nói: “Bán cho ông cây bút viết chữ Nho”
   Tỏ vẻ ngạc nhiên cô đáp: “Bi giờ làm chi có loại bút “Cổ lỗ xỉ” ấy!”
   Tôi chưa kịp nói câu nào với cô bé thì chị chủ nhà sách bước nhanh tới và nói: “Dạ!. Dạ có!”.
   Trả tiền xong tôi cảm ơn chủ nhà sách và suy nghĩ... “Cổ lỗ xỉ!”?.

5. “???” 1

   Đám trẻ lên năm lên bảy xúm nhau lại giả bộ chơi trò “vợ chồng”.
   Cu Lỳ đứng chống nạnh nói:
   “Nhỏ Xíu! Làm gì có tiền?”
   Thực ra Nhỏ Xíu đang cầm mấy cái lá mít.
   Nhỏ Xíu lí nhí:
   “Dạ thưa! Dạ thưa của anh Vuông cho ạ!”
   Cu Lỳ:
   “My không nghe xóm bảo Vuông là tay chuyên cắp vặt à!”
   Nhỏ Xíu:
   “Nghe! Có nghe nhưng ảnh hay cho kẹo con mà!”
   Cu Lỳ cười te toét bảo:
   “Ừ hỉ! Thằng ngó rứa mà biết “điều”
   Tôi hỏi:
   “Tại răng biết “điều”?”
   Cu Lỳ:
   “Còn hơn “ăn cắp” rồi cất kỹ!”.
    “???”

6. “???” 2
   Chơi trò “vợ chồng” chán đám trẻ chơi trò “thầy trò”.
   Cu Lỳ đóng vai người thầy mặt đăm chiêu hỏi:
   “Mấy trò về sau ưng làm việc chi nhất?”
   Đám trẻ ngồi lặng im.
   Nhỏ Xíu thưa:
   “Không làm mà có nhiều tiền!”
    “???”.


7. MANH MÚN
   NGƯỜI NÔNG DÂN VỚI THỬA RUỘNG NGƯỜI CÔNG NHÂN VỚI XÍ NGHIỆP TẤT CẢ KHÔNG GÌ KHÁC NGOÀI VIỆC PHẢI LÀM RA CÁI ĂN CÁI ĐỂ.
Từ hàng ngàn năm qua dù so với trước có nhiều thay đổi cảnh cơ hàn đói cơm lạt mắm không còn đại trà... nói thế không phải đã tốt đẹp cả!.
   Cái không ấy là manh mún. Chuyện đèn ai nấy rạng, ưng tranh phần hơn về mình, chuyện... , chuyện... nhiều khi vì tránh đi điều mắc lòng mắc bồi mà ít ai nói thiệt.   Manh mún thửa ruộng, cái máy móc... có thể là thường tình, manh mún trong suy nghĩ hành động thật đáng ngại!.
   Manh mún...

8. DỎM
   DỎM TỨC LÀ KHÔNG THIỆT. BIẾT THẾ NHƯNG CỨ THẮC MẮC!. Hồi còn nhỏ cu Su thường chau mặt khi ai nói nó dỏm lớn lên đi làm lúc đầu anh Su cũng khó chịu khi ai đó nói anh làm điều gì đó không thiệt... Bây giờ khác rồi hình như anh thích nghi với nhiều "chuyện thường ngày ở huyện"!.
   Mẹ anh Su tuổi trên chín mươi tuy có lọm khọm trong đi lại song minh mẫn lắm.
   Bà hỏi:   "Răng càng ngày con sống khác xưa nhiều?"
   Anh Su:
   "Dạ! Mẹ ở nhà nên không rõ thôi con còn "tử tế" chán!"
   Ý anh giờ đi đâu làm gì cũng gặp "dỏm": Người có người dỏm đồ vật có đồ vật dỏm không biết đâu mà lần... đến như sẽ có mẹ dỏm tức là các bà mẹ làm một công việc hết sức "đạo đức, nhân văn, thiêng chức" đẻ hộ!.
   Câu thơ "... như là có một mẹ thôi" từng xao xuyến bao người con còn hay đi vào dĩ vãng!.

9. ĐÁM MA KIẾN
   MỘT ĐÀN KIẾN DÀI NGOẰN ĐI THEO SAU MỘT ĐÁM MA CON KIẾN.
   Không rõ lý do chết chỉ biết cả nhà kiến ai nấy cũng tỏ vẻ thành kính và thương tiếc lắm!.
   Bốn chú kiến kẻ trước người sau khiêng kiến chết đi chầm chậm.   Cu Cơm nói:
   "Mẹ thấy hông kiến cũng biết thương kiến!"
   Mẹ cu Cơm:
   "Sao con nghĩ vậy?"
   "Dạ! Dạ tại con thấy đang đưa kiến chết đi chôn nhiều con kiến chụm đầu lại y hồi ngoại chết mẹ và dì Út ôm nhau khóc mẹ không nhớ hãy!"
   Không để mẹ trả lời cu Cơm nói tiếp:
   "Mẹ há đến con kiến còn biết thương nhau mà sao con người lại ganh ghét nhau giết chết nhau...
   A! con nhớ rồi vì tiền phải không mẹ?"
   Mẹ:
   "Tại sao con lại nghĩ vậy?"
   "Dạ con nghe truyền hình hôm qua nói vì muốn có mấy trăm triệu ai đó bắt và dọa giết hai người...!".
   Mẹ!!!.

10. CÁI MÂM
   CỨ NGỒI VÔ ĂN NHÀ ÔNG M KHÔNG CHUYỆN NÀY THÌ CHUYỆN NỌ NÊN MƯỜI BỮA NHƯ CHỤC không khí như đang ở chảo lửa nó nóng hừng hực. Cả năm người vừa vợ chồng con cái và thêm đứa cháu nội lên chín đều buồn phần ai nấy ăn...
   Phải như nhà bà Bay bên cạnh thiếu trước hụt sau như thế cho cam đàng này nhà ông M qua thời ăn tro mò trấu nay nhà cửa khang trang, con cái có công ăn việc làm hẳn hoi lại toàn việc hái ra tiền đống tiền khối...
   Cha ăn mặn con khát nước đời hay soi mói thế chưa kiểm chứng nhưng hồi ông M còn chức quyền nay chức quyền kế thừa cho con thì việc ăn nên làm ra là chuyện khỏi phải bàn chỉ có tại sao dư dã thế giàu có thế... bữa ăn nào cũng cá thịt thừa mứa thế mà cơm không lành canh không ngọt thì có trời mới tỏ!.
   Ông M:
   "Hắt quách cái mâm!".
   Ông nói trong hơi thở hổn hển.
   Đứa con trai:
   "Đâu phải tại nó mà hắt!".
   Cô con dâu: "Chẳng lẽ tại con cá!".
   Bà M im thin thít đỏ hoe đôi mắt vốn đã lão hoá vừa đục thuỷ tinh thể.
   Đứa cháu nội lên chín sè sẹ bỏ chén đũa xuống mâm rồi thưa:
   "Theo con tại những người ngồi quanh mâm cơm ạ!".
   Ra đường nghe bà già về nhà nghe con nít!.

11. HẾT BUỒN!
ĐỌC MỘT TRUYỆN CỰC NGẮN TRÊN FACBOOOK CÓ TÊN "BUỒN... ẢO" MÌNH LẠI BUỒN THẬT.
   Té ra trên mạng hàng tỉ người yêu thương nhau như thế có không ít người chỉ "yêu" chót lưỡi đầu môi...
   Ông Mark Zuckerberg một hôm đọc thấy những stt của họ bèn com...
   "Nếu hay tin ông chủ của Fb lụn bại bạn có ý tưởng gì giúp ổng vực dậy để trang "yêu thuơng có cánh" sống không?"
   „Hi hi... Xin thành thật chia buồn..."
   Mark Zuckerberg:
   "TKS bạn!. Tài khoản của bạn đã khóa. Lý do fb không bao giờ lụn bại vì luôn có hàng tỉ người yêu thương nhau thiệt tình!".
Mình hết buồn.

12 . HÃY TỰ CỨU! (*)
   MỘT HÔM ĐỘT NHIÊN MẠNG FACEBOOK Ở NUỚC X TẮT NGẤM KHÔNG PHẢI DO SỰ CỐ...
   Người người chạy hết ra khỏi nhà (nhà bank, nhà ở, nhà làm việc...), tất cả xe cộ dừng lại kéo còi...
   Có ông lão khoảng trên tám mươi tuổi chạy như điên trên đường giơ hai tay giơ lên caomiệng kêu "Trời!".
   Trời phán:
   "Các người không nhớ ah!: Hãy tự cứu!".

HÒA VĂN
------
(*):  26 tháng 012015 – Truyện cực ngắn Hãy tự cứu viết ngẫu nhiên trước một ngày, 27 tháng 012015 Facebook bị sập toàn mạng, 1 giờ sau mới truy cập lại được)

Thứ Ba, 10 tháng 10, 2017

ÔNG CƯƠNG





TÔI THÍCH GỌI ÔNG LÀ ÔNG CƯƠNG, Ý của tính cách của ông đồng thời có một chút riêng tư ông họ Văn Quỳnh Đôi, Nghệ An nơi trong gia phả họ tôi khi vô Trung khai cơ lập làng(*)  thời vua Lê Thánh Tông nhị niên 1471 ghi quê gốc Châu Hoan xứ Bắc, Châu Hoan khi tôi tìm về là nơi sinh của ông với dòng họ Văn đông đến nỗi lâu nay ít giỗ Tổ mà mời cả họ tại đây vì "đông quá!" ; nơi sản sinh nhiều người yêu nước thương dân nhiều bậc khoa bảng hữu ích cho xã tắc nhân sinh như tiến sĩ Văn Đức Giai,  phó giáo sư, tiến sĩ Văn Như Cương - ông Cương là hậu duệ tiến sĩ Văn Đức Giai.



Tôi gặp ông trong sự kiện của dòng họ Văn đại hội thống nhất toàn quốc lần thứ nhất tại Huế cách nay 5 năm (2012-2017). Tiếng của ông nghe nhiều khi được ông bắt tay trong tình gia tộc càng cảm nhận sự ấm áp gần gũi thân tình y như ông cháu xa lâu ngày gặp lại. Lần gặp ấy đại diện đoàn đại biểu họ Văn Quảng Nam-Đà Nẵng tôi và anh Long chỉ ý kiến với ông về việc chung của dòng họ Văn sau buổi họp đại hội trù bị. Ông ghi nhận và hứa tối về sẽ đọc lại văn bản... rồi sáng sớm hôm đại hội chính thức khai mạc ông nói đã bàn và Ban tổ chức đã đồng ý để văn bản này lại không trình ra đại hội, đại hội giao cho Ban chấp hành tiếp tục nghiên cứu thu thập thêm ý kiến tài liệu để lịch sử họ Văn Việt Nam không những đầy đủ mà phải chính xác, việc này thấy rằng tính cách ông làm việc rất chu đáo sẵn lòng lắng nghe ý kiến và nếu thấy đúng thì hoan nghênh.

Việc ông từng thẳng thừng không màng danh lợi đã từng nghe kể hoặc đọc trên báo chí nên khi đại hội trù bị nhiều đoàn đại biểu đề cử ông vào Ban chấp hành và chức danh chủ tịch Hội đồng họ Văn VN khóa I (2012-2017), ông cảm ơn sự tín nhiệm của dòng họ nhưng ông xin không đảm nhận để nhiệm vụ ấy cho thế hệ trẻ hơn ông là lời nói tâm huyết!. Ông nói thêm làm việc họ tộc là vinh dự rất cần nhiệt tình và sự trong sáng trong mọi công việc.

Qua nhiều đề nghị thiết tha cả hội trường vỡ òa trong niềm vui khi ông Cương nhận làm chủ tịch và đọc diễn văn bế mạc đại hội "Đại hội thống nhất phát triển bền vững dòng họ Văn Việt Nam".

Một nhiệm kỳ đầu tiên gần kết thúc ông cùng BCH họ Văn VN đang xúc tiến chuẩn bị Đại hội II tại Tp HCM vào 28-29/10/2017 sắp tới thì ông đã...

Tin ông từ trần dù biết ông đầy nghị lực "chung sống" với bệnh hiểm nghèo đã mấy năm gần đây nhưng người người yêu quý ông không khỏi bàng hoàng thương tiếc!.

Kính gởi đến gia đình, Ban lễ tang Ông Văn Như Cương lời chia buồn thống thiết "HUYẾT THỐNG ĐỒNG BI", kính cầu hương hồn ông thanh thản về cõi vĩnh hằng!./.

-----

(*): Làng Đông Bàn, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn nay là một trong địa phương của Quảng Nam- Đà Nẵng.

xem liên kết

https://hovanquangnamdanang.blogspot.com/2017/10/ong-cuong.html

https://hovanquangnamdanang.blogspot.com/2017/10/ong-cuong.html

Thứ Tư, 28 tháng 6, 2017

HÒA VĂN: NHỚ MẸ!

  2017... đã 6 năm... Và không bao giờ quên Mẹ!




Di ảnh Mẹ




   Chiều nay ngồi lơ đãng nghĩ ngợi... và trong tâm trạng ấy tôi lẳng lặng nghe từng hồi chuông vọng lại từ một ngôi chùa làng cách nhà trên năm trăm mét. Thế là mẹ ơi! Mẹ đã về cõi Tịnh độ một năm rồi!. 

    Mới Vu Lan năm trước con còn mẹ. Con tự hào vui sướng nhận đoá hoa hồng tươi tắn do các huynh đệ ở chùa gắn lên ngực áo con sau đó khi về nhà con đã tặng mẹ đoá hoa ấy mẹ nói: “Hoa đẹp quá!”. Rồi mẹ nở nụ cười tươi tặng con!. Mà Vu Lan nầy Vu Lan đầu tiên con thật sự vắng mẹ thật rồi! .

    Trong tâm trạng như vậy tôi bật máy nối mạng gặp bài thơ có nhan đề: Mùa Vu Lan không mẹ của tác giả Nguyễn Điệp (NĐ) đăng trên trang chủ yume.vn. 

    Bài thơ đem đến cho tôi cảm xúc khá mạnh. Ở nhà một mình tôi bật khóc!. 



“Em đang rất buồn có phải thế không em? 

Vu Lan đến mà Mẹ không còn nữa” 

    Câu thơ đầu tiên trong số 16 câu thơ của bài thơ là câu hỏi?. Không phải!. Đây là tiếng lòng của tác giả bài thơ chia sẻ nỗi niềm “Mẹ không còn nữa” với cô bạn gái hay em gái?. Dù cô bạn hay em gái câu thơ cũng đạt độ chín!. Không thể viết hay hơn được. 

“Em đang rất buồn có phải thế không em? 

Vu Lan đến mà Mẹ không còn nữa 

Bao bạn bè cùng trang cùng lứa 

Đang xum vầy bên Mẹ bên Cha” 

    Câu thơ kế tiếp đẩy tứ thơ lên khiến cho “em” thật sự “rất rất buồn” chứ không còn có “rất buồn” “không em?” nữa. 

Giống như tôi bây giờ vậy. 

“Vu Lan này xin đặt một nhành hoa 

Bên di ảnh của người đã khuất 

Người mà trong đời em yêu nhất 

Nén hương thơm sao chưa thấy người về!” 

    Vâng NĐ! tôi đã làm đúng như câu thơ anh viết. “Bên di ảnh” “người mà trong đời (tôi) yêu nhất”  tôi thắp ba “nén” nhang khói hương và “hương thơm”  nhẹ nhàng bay bay theo gió thu, loan toả dìu dịu  mà “sao chưa thấy người về!”. 

    Và rất đúng: 

“Có lẽ giờ lòng em rất tái tê 

Cái mất đi không dễ gì bù đắp 

Chỉ có ai trong cuộc đời đã gặp 

Mới hiểu và thương cảm cùng em” 

    Tôi là người NĐ viết trong khổ thơ, câu thơ nầy đó!. “Giờ lòng (tôi) rất tái tê”  trước nỗi mất mát vô cùng lớn. Lớn nhất trong cuộc đời nầy với tôi... “Không” có gì... “Không dễ”  lấy điều “gì”  cái “gì” “bù đắp” được!. “Chỉ có ai trong cuộc đời đã gặp mới hiểu và thương cảm cùng (tôi)”. 

    Cảm ơn tác giả đã viết lên nỗi lòng của những người con mất mẹ!. Nhất là lại đọc bài thơ đúng vào thời điểm Vu Lan thắng hội nầy, bài thơ càng tăng thêm nhiều cảm xúc thật sự sâu lắng... 

    Cảm ơn sự đồng cảm và chia sẽ thiệt lòng của tác giả trong đoạn thơ cuối cùng: 

“Có những miền ta chưa dám đặt tên 

Chỉ thấy vắng những chiều em không đến 

Vu Lan này xin dành niềm cảm mến 

Chúc một ngày em sẽ bình yên!”. 

    Chỉ cần đổi từ “em” ai có cùng nỗi niềm sẽ là tôi là anh!... 

    “Thơ nói đến những điều cao xa hay gần gũi không quan trọng bằng nói được nỗi lòng ta và nói thay cho bao nỗi lòng đồng điệu khác.”. 

(Đêm trước ngày lễ Vu Lan 2012)

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2016

QUẢNG NAM 2016 LŨ CHỒNG LŨ











Lũ 2 0 1 6:

QUẢNG NAM LŨ CHỒNG LŨ

"Thời tiết mỗi năm một khắc nghiệt".

Ấy là câu nói của chính bà con nông dân.

Ở đâu cần gió để mát, cần mưa để đỡ cơn nắng nóng, cần lũ để nhớ về ngày xưa... Còn ở mọi miền quê người nông dân cần nắng mưa gió và cả lũ "đúng quy trình" để sống và để tồn tại...

Vậy nên hãy nhìn sự ngong ngóng chờ đợi hay thấp thỏm về một hiện tượng thời tiết nào đó của trời đất sẽ thấy trong tâm can nhà nông biết bao nỗi buồn vui...

Nhà nông xưa nay trông trời trông đất vận dụng mọi kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ vào mần ăn. Với nhà nông làm chi cũng phải tính tới tính lui coi thiệt hơn cặn kẽ chứ không giỡn chơi!. "Lão nông tri điền" là vốn quý của các nhà nông. Chỉ cần dự tính sai "một ly đi một dặm" " tính "sai con toán bán con trâu" mà "con trâu đầu cơ nghiệp". Làm nông "cơm niêu, nước lọ" đã thế còn chịu nhiều tai ương khó lường có người nói "xí nghiệp ngoài trời" để chỉ sự bấp bênh của nghề nông.

Đụng năm thuận có cái ăn cái để đụng năm nắng hạn bão tố lũ lụt hoặc sâu bệnh...  "trăm dâu đổ đầu tằm" "được thua thuế vua phải nộp"!.

Năm nay là năm nhà nông Quảng Nam chịu nhiều thất bát ngay từ đầu vụ. Suốt mùa mưa trời quang mây tạnh cứ tưởng như năm trước qua 23 tháng 10 "ông tha bà... tha" thời tiết hệt tháng năm tháng sáu đất cát khô ráo lại đã tới mùa vụ những dỉ cây ớt trên dàn lớn trông thấy lá ngọn mơn mởn xanh.

Năm ngoái sau nhiều năm trồng ớt "nài" (là khi thu hoạch được thua chi muốn bán phải nài nỉ người buôn mua) lần đầu trong 40 năm làm ớt (xuất khẩu) nhà nông trúng cả sản lượng và giá, có trúng nhưng diện tích không bao nhiêu năm nay 2016 nhìn lượng người đặt mua hạt giống ớt thì biết diện tích sẽ tăng gấp đôi gấp ba. Hạt giống ớt khan hiếm nhiều nhà đôn đáo đặt cặp tiền mới có. Cây giống lên tốt tươi ai cũng bỏ bụng mừng hè nhau ra biền bãi ven sông làm đất gieo trỉa. Cái ớt cái đậu phụng cái đậu cô ve... Không riêng ở Gò Nổi - Điện Bàn những nơi như Đại Lộc, Duy Xuyên qua 23/10 âl đều cũng vậy những đám ớt đám đậu... bén phân tro bắt đầu xanh lá.

Kinh nghiệm dân gian khi bói ven bờ sông trổ cờ là hết lũ nếu còn cùng lắm lụt lòng sông.

Vậy mà...

Sau 23/10 sau "ông tha" mà "bà không tha!" trung tuần tháng 11 âm lịch rồi trời lại mưa to khắp nam Trung bộ trong đó Quảng Nam không ngoại lệ. Mưa thượng nguồn mưa hạ du với mức trên 200-400 mm mưa to vào thời điểm các hồ thủy điện đã tích đầy nước, đây là cộng hưởng giữa thiên và nhân, tin các hồ xả lũ làm nhà nông đứng ngồi không yên. Nhìn trời vần vũ chừng nào nguy cơ xả lũ nhiều chừng ấy.

Sáng 16-12, theo Chi cục Phòng chống thiên tai khu vực miền Trung- Tây Nguyên (CCPCTTMT-TN): "Lũ trên sông Vu Gia tại Ái Nghĩa (Quảng Nam) đã đạt đỉnh ở mức 9,44m, trên báo động 3 0,44m; sông Thu Bồn tại Giao Thủy đạt đỉnh 8,44m, dưới báo động 3 0,16m, tại Câu Lâu đang lên.

Mưa to ở vùng hạ du cộng với việc các thủy điện ở thượng nguồn tiếp tục xả lũ vào rạng sáng 16-12 đã khiến vùng hạ du Quảng Nam ngập sâu trở lại, nước các sông hầu hết đã trên báo động 3…

Trong ngày 16-12, nhiều thủy điện ở thượng nguồn sông Vu Gia – Thu Bồn tiếp tục xả lũ với lưu lượng lớn. Cụ thể theo CCPCTTMT-TN: "Lưu lượng xả hồ Sông Bung 4 là 1.137m3/s, Đắk Mi 4 là 1.048m3/s, Sông Tranh 2 là 2.527m3/s".

Việc các thủy điện ở thượng nguồn tiếp tục xả lũ đã khiến cho vùng hạ du Quảng Nam chìm trong biển nước. Trong chiều 16-12, lũ trên sông Thu Bồn tại Câu Lâu dự báo đạt đỉnh ở mức 4,3m, trên báo động 3 0,3m, tại Hội An 2,5m, trên báo động 3 0,5m.

Hai con sông Vu Gia, Thu Bồn hai cái túi đựng nước từ thượng nguồn nước đục ngầu chảy xiết cơn lũ ngày 3/12 vừa dứt nước sông còn đầy ắp lại mưa to... nếu lũ trước gây ngập cây màu, khu dân cư ở hạ lưu sông Vu Gia (Đại Lộc),... thì cây lũ thứ 2 ngày 14/12 ngập Đại Lộc, Điện Bàn, Tam Kỳ, Hội An...

Điện Bàn nước ngập các xã tây- bắc. Gò Nổi qua 2 lần ngập lũ trái mùa này gây nên nhiều thiệt hại mùa màng.

Gò Nổi cả 3 xã Điện Quang, Điện Trung, Điện Phong lũ vây quanh nhiều khu dân cư chỉ còn nền nhà.

Điện Phong là địa bàn thấp lụt cây thứ 2 nước đã chia cắt hoàn toàn các thôn. Riêng tuyến đường chính 610B kết nối vùng Gò Nổi xuống quốc lộ 1 nhiều đoạn đã bị ngập sâu 0,5 - 1m. So với các xã trong Gò Nổi xã Điện Phong là thấp lụt nhất ngoài ngập khu dân cư tất cả các gò, bãi trồng hoa màu của người dân trong xã bị ngập hoàn toàn, hàng chục hecta ớt cũng đã bị hư úng. Trước cây lũ 3/12 một số bà con không nề hà mưa lạnh tập trung lao động bứng ớt dùng xe chở trở về nhà dưỡng, sau lũ tranh thủ mấy ngày tạnh ráo mới trồng lại nhưng chừ tiếp cây này thì mất trắng rồi!.

Ở Điện Quang anh Trương Năm người cung ứng con giống cây ớt nói:

"Trời nắng ráo như rứa biểu đừng xuống giống đậu... đặt ớt sao được!".

Nhà nông dù kinh nghiệm mấy cũng bó tay. Nếu qua trung tuần tháng 11 âl mà không trỉa cove, đậu phụng ở diện đất bồi ven sông Thu thì về sau có trỉa cây đậu chỉ tốt mã chứ trái quả ra chi.

Bây giờ gieo trỉa có máy cày máy lồng không như xưa cuốc đôn 5, 7 công/ sào nên việc gieo trỉa nhanh lắm. Đất ba hàng dãy bảy hàng dài vậy mà chỉ trong mấy ngày là xong khâu cày; lồng sự nhanh nhạy như thế mà gặp lũ chồng lũ như những ngày qua hỏi còn gì?.

Nhiều nông dân nói:

"Tiền vốn đầu tư công cán giống má (riêng hạt giống ớt 403 tiền giống 1 triệu đồng/ sào 500 mét vuông) gieo vãi rồi... mất thì chắc mất rồi... nay mai nước rút lấy giống đâu làm lại nhất là giống cây ớt!".

Sản xuất nông nghiệp là loại hình sản xuất chịu nhiều rủi ro do thiên tai sâu bệnh trong đó không ngoại trừ tác hại nhân tai. Ở đâu có sự liên kết tốt từ các khâu sản xuất lưu thông phân phối mà nhà nông gọi nôm na phải có đầu vào đầu ra mới hạn chế phần nào rủi ro, hay có rủi ro có "chỗ chịu" mà hay gọi "bà đỡ"... mạnh ai nấy làm, làm theo kiểu "móng đâu câu đấy" càng mất an toàn nếu không muốn nói "Làm như đánh bạc". Lũ chồng lũ vừa rồi thiệt hại nếu lớn bao nhiêu cũng thống kê cho biết chứ không thể có sự "đỡ vớt" nào khi từng hộ tự làm tự chịu.

Ở Điện Quang ai nhận cây giống ớt của cty nơi anh Trương Năm cung ứng, cty sẽ chia sẻ phần thiệt hại về giống như vậy thì nhà nông đỡ một phần thiệt hại.

Sự liên kết “4 nhà” (nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông) hỗ trợ người nông dân trong sản xuất, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm là chuyện ai không muốn có điều làm chi cũng phải sòng phẳng minh bạch giữ chữ tín hai bên cùng có lợi mới bền ngược lại đừng trách này nọ... nhà nông tâm sự như vậy.

Đọc báo nghe đài thiệt hại của lũ chồng lũ vừa qua tại Quảng Nam con số lên hàng trăm tỉ đồng.

Sự vất vã của những ngày chạy lũ sự mất mát tài sản hoa màu... rồi cũng đi qua nhà nông lại "Cơm niêu nước lọ" bòn mót những gì còn lại hoặc vay mượn chịu nợ nần bèn mọi cách phải trở ra mảnh đất tiếp tục bươn chãi... tiếp tục... sống chung với lũ...

Không ai mong ngóng thời tiết mưa thuận gió hòa bằng nông dân../.

Hòa Văn

18/12/2016

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2016

HÒA VĂN: NHỚ BÃO LŨ NĂM THÌN 1964









Cơn lũ lịch sử năm Giáp Thìn 1964 gây thiệt hại kinh hoàng cho các tỉnh miền Trung từ Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và Bình Định, năm ấy mình tròn 10 tuổi, độ tuổi ăn chưa no lo chưa tới nhưng hình ảnh bão rồi lũ thì in vào trí nhớ mình thật rõ ràng.
Hôm trước bão lũ ba về khi ông Sáu lo chuyện thông báo của làng xã Phú Thọ cầm cái loa làm bằng tôn rao "Đồng bào Đồng bào nghe đây nghe đây cơn bão... sẽ... " là ba quyết định ở lại nhà chứ không đi như dự định. Giờ nghĩ lại trong cơn bão lụt ấy mà không có ba ở nhà, mẹ và ba anh em nhà mình - một phụ nữ và 3 con nhỏ - sẽ chèo chống làm sao?.
Mẹ nói: "Anh coi đốn tre chằn chống nhà liền chứ nghe như rứa chắc bão to!".
Tính mẹ mình hay lo xa. Nhưng đúng y.
Mưa tạnh trời quang đãng. Ba bảo trời như ri là sắp bão tới nơi. Căn nhà tranh dừng phên khuôn, có cột gỗ và  trính gỗ lại chằn bốn cây tre bốn góc thế mà bão từng hùn dở phên xong muốn dở mái, cả bốn cây cột đứng tán đều bị bão bưng ra khỏi đá tán.
Bão gây thiệt hại nhiều nhà nhứng rất mau người không ai hề gì. Nhà mình chỉ sập sệ căn nhà dưới còn nhà trên không sụp nhưng trống rỗng vì phên đi phần phên khuôn đi phần khuôn!.
Sau bão là mưa. Những cơn mưa như "Cầm chĩnh đổ" liên hồi. Con hói trước cách nhà bốn năm trăm mét đầy ắp nước. Nước đầy bọt bèo và đục ngầu.
Ba nói chi chi cũng có lụt to.
Ông Sáu đi trên đường cái loa xỏ xuống xóm  rao giục mọi nhà chuẩn bị tránh lụt. Ba đi qua nhà bà ngoại khi về có cậu T. Hai anh em rút bộ ván ba tấm bắc thang đưa lên trính.
Càng về tối mưa càng to nước hói bò lên mấy đám đất thổ. Đường của xóm phần lớn đã ngập. Có lụt to là cái chắc. Ông trùm Tính nhà kế bên nói với ba như vậy.
Mình bẻ một cành cây keo hàng rào làm cây que căm mé đường canh nước lũ. Lũ lớn nhanh như thổi. Mới cắm cây que một xíu mà nước bỏ cây que cả tấc.
Và rồi nước đóng mái thềm. Nước vô nhà. Ba và mẹ sớm giờ lo dọn hết nhà bếp lại lên nhà trên. Nói dọn như dọn lụt là đúng. Cái gì cũng phải đưa lên cao. Cái đòn kê, đôi dép đôi guốc... bỏ lên giường. Mấy cái chum đựng lúa bắp...  thay vì xúc hết ra bao ba chỉ xúc bớt rồi lấy đoạn tre làm cái ngán bỏ vô trong miệng chum cột dây để sẵn khi nước vô sâu cứ kéo dìu chum treo lên rượn nhà nhờ làm như thế mà lúa bắp không bị nước ngập hoặc trôi đổ.
Từ khi nước vô nhà mình bỉ cấm lội nước nhưng trước đó khi nước lớn tới ngõ lên sân mình được lội lụt.
Mẹ nói lội coi chừng hỏng cẳng!. Nhà mình đắp ụ đất cao mới làm nhà. Đây là tránh lũ từ đầu. Nền nhà của ông trùm Tính, ông bảo Phú, ông Một, bà Trợ trong xóm cũng như nhà mình đều đắp cao so với mặt đất vườn ở cả mét. Mẹ nói lội nước coi chừng hỏng cẳng mà vậy. Không để ý khi lội dễ lọt chân xuống đất vườn nước lút đầu nguy hiểm.
Khi nước vô nhà mình có nhiệm vụ ngồi trên giường giữ hai đứa em 4 và 7 tuổi. Cả hai em loay hoay không chịu ngồi yên ý chừng cũng muốn dọc nước!.
Nước càng lớn mưa càng dữ dội. Mực nước tăng lên từng phút. Mới ngập ngạch cửa giờ đã mon men lên giường rồi.
Ba nói với mẹ đưa gạo, nước, son nồi lên cái gác tạm mà ba đã làm trên trính.
Và không lâu sau đó cả nhà mình lên gác. Lũ không có dấu hiệu dừng.
Trời tối cả xóm làng chìm trong nước lũ. Ngọn đèn dầu lửa cháy lay lắt phập phù lâu lâu gặp gió mạnh muốn tắt. Qua một đêm nằm trên gác đến gần sáng nước lũ chấm mái tranh. Mình có thể dùng tay dọc nước!.
Cơn lũ to chưa từng thấy. Ba nói với mẹ.
Mình thì chẳng biết gì cứ thấy càng lớn càng vui.
Sáng ra ba bẻ rui mè nhen lửa nấu cơm ngay trên gác.
Lũ lịch sử năm Thìn về sau nhiều người nói như vậy. Làng xã nơi mình ở hồi ấy là xã Phú Thọ quận Điện Bàn tỉnh Quảng Nam lũ to nhưng không có tổn thất về người còn hoa màu của cải gia súc gia cầm thì hầu như mất hết. Ai cũng lo giữ sinh mạng chứ nước lũ chấm mái tranh rồi còn gì!. Mẹ nuôi con heo nái to... cố gắng giữ rồi cũng trôi.
Khi nước dựt trâu, bò... chết trôi tấp vô hàng rào nhà bà Trợ cả xóm ai cũng xẻo thịt về xào ăn rất ít nhà còn dầu phụng, nước mắm, muối do nước lũ dâng nhanh không kịp trở tay. Nhà mình nhờ có ba làm gác đưa lên gác gạo, mắm muối và cả thùng thiếc nước giếng nữa nên lũ to ngày đêm không đứt bữa mà còn hỗ trợ bà con trong xóm...
Lũ lớn nhanh nhưng rút cũng lẹ khoảng hơn nửa chiều nước ra khỏi xóm trên đường cái đã có người đi bộ. Việc vận chuyển đồ cứu trợ do máy bay thực hiện ngay trong lũ và khi lũ dựt ông Sáu lại cầm loa rao quanh xã " Đồng bào... đi nhận bánh mì...". Nghe kể cơn lũ đã cuốn trôi nhà cửa ruộng vườn và người ở mấy xã trên nguồn. Ngay tại xã Phú Hưng lân cận với xã Phú Thọ mình đã có người trên nguồn trôi xuống tấp vô xóm được cấp cứu thoát chết. (Về sau bà ở lại chứ không về nguồn vì qua cơn lũ gia đình không còn ai).






"Các nhân chứng tại Quảng Nam mô tả giống nhau: Đầu tháng 10 (ÂL) nước từ trận lụt trước còn mấp mé không chịu rút / Mùng 4-10 (tức ngày 7-11-1964) mưa to kéo dài / Từ mùng 5-10 trời sa xuống đất / Giữa trưa đứng ngoài trời đưa bàn tay trước mắt cũng không nhìn thấy / Mưa kéo dài không ngớt đến ngày 6-10 thì nước vào / Tối mùng 6-10 nhà cửa bắt đầu trôi / Nước lên nhanh nhưng xuống chậm.

Trận lụt năm 1964 gây thiệt hại kinh hoàng cho các tỉnh miền Trung từ Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Tín (đơn vị hành chính của Việt Nam cộng hòa năm 1964), Quảng Ngãi và Bình Định. Đặc biệt tại Quảng Nam, cư dân ven hai con sông Thu Bồn – Vu Gia bị thiệt hại nặng nề nhất.

Theo tài liệu “Lụt từ trên nguồn đổ xuống bốn hướng. Từ Phước Sơn, Tân An xuống Giảng Hòa, từ sông Giằng, từ Tam Sơn xuống Tam Kỳ và từ Tam Kỳ xuống Bàu Bầu, An Hòa. Trận lụt to làm nước xuống rất mạnh đến nỗi núi lở từng cụm từng mảng, đẩy những tảng đá như cái nhà cái nong trôi đi, ở Trà My, Phước Sơn. Lụt đã mở thêm ra hai cửa biển và đổi cả dòng sông. Ruộng bị lấp ở Phương Đông, Dương Yên thành như sân bay. Ở Giảng Hòa 480 dân chết hết 400, đất lở hết không còn làng nữa. Trong tỉnh, 3.000 mẫu ruộng bị lấp, gần 6.000 người chết, huyện Quế Sơn là nặng nhất!”.

Nhà thơ Tường Linh viết: Thảm nạn quê hương

Không còn gì nữa cả

Không còn gì nữa cả em ơi!

 Một tháng quê hương không bóng mặt trời

 Một tháng quê hương mưa gào gió thét

Đất Quảng thân yêu người người rên siết

 Sáu mươi năm lại đến “họa năm Thìn”

Thảm nạn này biết thuở nào quên!

Biết thuở nào quên!

 Một tối nước lên, nước tràn lên khủng khiếp

 Cả ngàn người, cả vạn người không chạy kịp

 Nước réo ầm ầm át tiếng kêu la

 Chới với. Ngửa nghiêng. Người cuốn theo nhà

 Nhà theo sóng. Người không thấy nữa

 Nhìn con trôi, mắt cha máu ứa

 Ngoi lên, tay vợ níu lưng chồng

 Rồi hai người thành hai xác giữa mênh mông

 Tấp vào bờ thây của người ông

 Giữ xác cháu, hàm răng ghim áo cháu

 Nhà có mười người, hết đường phấn đấu

 Sợi dây dài vội vã thắt tay nhau

 Cây nước tràn lên, cây nước phủ đầu

 Một “dây xác” trôi về đâu, ai biết…

Còn bao cảnh não nùng, bi thiết

 Nói không cùng, ghi chẳng hết em ơi!

Đất Quảng quê ta chết bốn ngàn người

 Kể chung miền Trung còn hơn thế nữa!

 Người sống sót không còn nhà cửa

 Không áo cơm, khô cả lệ thông thường

 Cắn vành môi nhìn lại một quê hương

 Bỗng run sợ tưởng đây miền địa ngục

 Quê hương ta: một hình hài ngã gục

 Cà Tang ơi, Trung Phước, Đại Bình ơi!

Đông An, Bình Yên… nước xóa cả rồi

Đá núi lấp đồng, bùn sông lấp xóm

 Mưa vẫn còn rây trên quê hương ảm đạm

Đồng hoang vu còn giữ những thây người

 Những thây người! Không đếm hết, em ơi!

Em hãy ghi: Ngày mùng 6 tháng 10

 Năm âm lịch Giáp Thìn, em nhé!

 Ngày giỗ quê hương, dù bao thế hệ

Thảm nạn này biết thuở nào quên

 Xót thương về, em hãy đốt hương lên!

TL

Bão, lũ không gì tàn phá ghê gớm như bão, lũ. Điều này kinh nghiệm đau thương rất nhiều!. Đó là thiên tai chỉ có phòng tránh chứ không thể chống!. Phòng bằng cách tránh bằng cách bảo vệ môi trường thiên nhiên. Phá hoại môi trường thiên nhiên là tự đẩy con người đến bờ vực thẳm.

Những ngày này (12-19/10/2016) các tỉnh Quảng Trị, Hà Tĩnh đang quằn mình chịu biết bao tổn thất về người (25) về của (tính hàng tỷ...) bởi cơn lũ kinh hoàng. Nguyên nhân do đâu?. Câu hỏi cần trả lời trung thực!.

H.V

BÀI XEM NHIỀU