* Trang Văn học - Nghệ thuật VĂN CÔNG HÒA Làm thơ không chỉ tỏ bày Viết văn không để ngày sau luận bàn Trót mang ba chữ sàn sàn Xin là hơi thở nồng nàn thương yêu Thơ văn tha thiết một điều Mong lòng Nhân Nghĩa ít nhiều trao nhau!. HÒA VĂN * Email: vanqndn@gmail.com Link: vanconghoadb.blogspot.com
Truyện ngắn, Truyện cực ngắn, Tạp văn, Thơ, Bạn văn, Nhạc, Tranh ảnh, VĂN HỌC NGHỆ THUẬT, Truyện dài
- Truyện ngắn (47)
- Quê xứ (43)
- Bạn Văn (42)
- Thơ (41)
- hòa văn (31)
- Tạp văn (26)
- Nhạc-Tranh-Ảnh (14)
- thơ hòa văn (10)
- Trang chủ (7)
- Văn tế (1)
Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025
Nguyễn Hàn Chung: ĐÁY SÓNG
Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2023
CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2024
Ý
𝙻à𝚖 𝚝𝚑ơ 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 𝚌𝚑ỉ 𝚝ỏ 𝚋à𝚢
𝚅𝚒ế𝚝 𝚟ă𝚗 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 để 𝚗𝚐à𝚢 𝚜𝚊𝚞 𝚕𝚞ậ𝚗 𝚋à𝚗
𝚃𝚛ó𝚝 𝚖𝚊𝚗𝚐 𝚋𝚊 𝚌𝚑ữ 𝚜à𝚗 𝚜à𝚗.
𝚇𝚒𝚗 𝚕à 𝚑ơ𝚒 𝚝𝚑ở 𝚗ồ𝚗𝚐 𝚗à𝚗 𝚝𝚑ươ𝚗𝚐 𝚢ê𝚞
𝚃𝚑ơ 𝚟ă𝚗 𝚝𝚑𝚊 𝚝𝚑𝚒ế𝚝 𝚖ộ𝚝 đ𝚒ề𝚞
𝙼𝚘𝚗𝚐 𝚕ò𝚗𝚐 𝙽𝚑â𝚗 𝙽𝚐𝚑ĩ𝚊 í𝚝 𝚗𝚑𝚒ề𝚞 𝚝𝚛𝚊𝚘 𝚗𝚑𝚊𝚞.
𝙷Ò𝙰 𝚅Ă𝙽
1/1/2024
Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2023
Thơ NGUYỄN VĂN GIA: LÊN CHÙA
Xa lắc rồi
niết bàn
Buổi thiền sư
mang gươm
Vô thường
bỗng bất thường
Niệm niệm
tâm bất an.
LÊN CHÙA
Lên chùa tìm chút thảnh thơi
Ai dè
chùa cũng như… đời ngoài kia
Cũng thứ hạng
cũng phân chia
Chỗ này vô nhiễm
chỗ kia thị trường
Đành rằng tất cả vô thường
Thôi ta về lại phố phường
ẩn tu.
Ở MỘT NƠI
CHÙA KHÔNG CÓ PHẬT
Đã hơn hai nghìn năm trăm năm
Mắt Đức Phật vẫn khép hờ
với nụ cười bí ẩn
Thượng sầu hạ hỉ
Sao niềm vui trốn biệt nơi đâu…
Trong nhà đầy báu vật (1)
Chẳng cần tìm đâu xa
Đừng mất công tìm Phật
Thế Tôn tại lòng ta
Chùa xây trăm nghìn tỷ
Tượng ngọc tượng vàng
Võng lọng xa hoa…
Những thứ mà Thái tử Tất-đạt-đa
đã ngày xưa từ bỏ
Đã lâu không đến chùa
Bởi lòng kính ngưỡng tăng ni nhạt phai
Lòng tin bị đánh tráo
Không còn ngồi dưới hiên chùa xưa
Bình yên ngắm đám mây trôi
Lòng ngậm ngùi cái lẽ vô thường của đất trời
Tai không còn nghe
tiếng chuông sớm chuông chiều
ngân nga hồn dân tộc…
Lên chùa
với nén tâm nhang
Tam quan mách bảo
Phật đang vắng nhà
Trở về phụng dưỡng mẹ cha
Dẫu không thờ Phật
cũng là quy y
Chốn thanh tịnh trang nghiêm
Ai bày ra ồn ào lễ hội
Cầu lợi cầu danh
Buôn thần bán thánh
Chẳng thấy đâu các bậc chân tu
Chỉ thấy tràn lan những thầy bói thầy cúng
Rộn rịp dâng sao giải hạn
Thỉnh vong oan gia trái chủ
Xưa “Phóng hạ đồ đao lập địa thành Phật” (2)
Nay bọn giả sư hành tung như thảo khấu
Mắt Đức Phật vẫn khép hờ
với nụ cười bí ẩn
Hơn hai ngàn năm trăm năm
Giữa muôn trùng vây
và vô vàn kiếp nạn
Nơi góc biển đầu non
Vẫn sáng soi
vầng trăng chánh pháp
Những bậc chân tu ẩn mình đâu đó
Không đủ phước duyên chẳng dễ gì gặp được
Buồn thay!
Nguyễn Văn Gia
______
(2) “Buông con dao đồ tể xuống, đứng ngay đó mà thành Phật”
Thứ Năm, 16 tháng 11, 2023
NGUYỄN ĐỐC: Thôi có lẽ đời ơi xin giã biệt
Gặp anh mến anh ở tài tâm và tính thẳng thắng của anh. Nhiều bài thơ bộc trực bỡn cợt thâm thúy ngay cả chính anh. Anh đã giã biệt ngày 16/11/2023 (4/10/Quý Mão)
Xin chia buồn cùng gia quyến!
Tiễn NGUYỄN ĐỐC
Ừ này trở lại cõi Người(*)
Bỏ con Chó (**) nhớ buồn vui một đời
Tiễn nhau câu thiệt tuyệt vời
Thôi thôi... "Không tiếc cái nơi tạm mà!".
16/11/2023
(4/10/Quý Mão)
Hòa Văn
-----
Chú thích
(*): Cõi chỉ có khi sống đúng khi mất mới tới
(**):
"... Ta không phải là cơn gió
Nóng lạnh tùy theo mùa
Ta chỉ là con chó
Khi chạnh lòng hay sủa bâng quơ
...
Nguyễn Đốc
THƠ NHÀ THƠ NGUYỄN ĐỐC
THÔI CÓ LẼ ĐỜI ƠI XIN GIÃ BIỆT
Thôi có lẽ đời ơi xin giã biệt
Biển ngoài kia đã réo gọi ta rồiCó nấn ná cùng bước đời trầy trật
Khi triều lên thuyền cũng phải dong khơi
Ta từng xót, từng đau, từng tha thiết
Trần gian ơi chưa kịp cảm ơn người
Mỗi ngọn sóng khơi thêm mầm ly biệt
Mỗi ngày tàn đâu hẹn một đêm vui
Ta vốn dĩ là một tay cà chớn
Yêu trần gian cạn kiệt máu tim mình
Rồi một sớm bổng nhiên bừng tỉnh dậy
Thấy loài người đang trở dạ yêu tinh.
NĐ
(9/6/2023)
SOI GƯƠNG
Có phải nụ cười dễ tìm gặp đâu anh
Năm tháng cày những vết hằn trên trán,
dũa mòn từng đốt xương
Mục đích con người:
Sống và yêu thương
Nhưng thù hận như bóng đêm
rình rập
Chúng mình gặp nhau sau bao lần thoát chết
Sao nụ cười chỉ thoáng qua môi !
Cái gì đã chen giữa tình bạn tình đời
Cái gì làm nhoà một thời thơ ấu
Có phải nụ cười dễ đâu tìm thấy
Trên môi anh và trên môi tôi !?
Chúng ta bây giờ đã quá bốn mươi
Tôi vẫn ngỡ mình còn non dại
Muốn nói hết nỗi lòng với anh
Mà cứ ngại
Hai mươi năm con người có đổi thay
(Những con người nếm mật nằm gai
Cái gian khổ thường đổi bằng kiêu hảnh )
Suốt đời tôi là chuỗi dài bất hạnh
Tìm kiếm nụ cười trên khuôn mặt người thân
Tìm kiếm nụ cười ở bè bạn anh em
Nhưng chỉ thấy mơ hồ như bóng khói
Có phải nụ cười dễ tìm gặp đâu anh
Năm tháng điểm sương từng sợi tóc
Cái nghèo đói giống như con ốc
Bò trong đời như trên cộng sen
Quá nửa đời tôi vẫn chưa quen
Những điều bất công,những điều giả dối
Và giận
mình không là con rối
múa may quay cuồng theo ngọn gió xoay
Bây giờ tôi chỉ là mũi gai
quay đầu nhọn tự đâm vào da thịt
Máu đã rỉ mà mình không biết
Nên cơn đau thấm dần
Nói nhỏ điều này với anh
Bốn mươi tuổi hỏi ai còn ảo tưởng
Sau lưng chúng ta bao bạn bè nằm xuống
Trong chúng ta được mấy đứa hiển vinh ?
Trố mắt trông gương tìm kiếm bóng mình
Không còn thấy
Những ngày Hội An
Những đêm Thừa Phủ
Mà chợt thấy một con sói dữ
Nhe nanh gầm gừ.
NĐ
(1975)
Dường như xuân còn nuối
Ngồi đọc thơ thiên hạ
Dường như đầy ắp xuân
Lật thơ mình đọc lại
Đầy xót xa và buồn
Con bệnh cứ vật vã
Cắn răng chịu với đời
Vợ con nhìn cứ tưởng
Mình là đứa ham chơi
Ly rượu xuân đắng ngắt
Vẫn nâng chúc mừng nhau
Sống trọn hay không trọn
Càng nghĩ càng thấm đau
Bước cho đời mấy bước
Cho mình được bước nào
Chết trôi về mấy cõi?
Mà sống là chiêm bao !
Đầu năm không muốn khóc
Sao nước mắt chảy dài
Buồn vui thì vẫn vậy
Ai nào biết cho ai
Ngày xuân nghe cái lạnh
Thấm vào từng đốt xương
Phải trái tim khốn khổ
Nhịp đập đã thất thường !
Ngồi đọc thơ thiên hạ
Mưa rây nhẹ mái nhà
Dường như Xuân còn nuối
Những ngày đông đã xa.
NĐ
2021
Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2023
LÊ THÍ: ĐÔNG VỀ... NHỚ MẮM THÍNH
Quê tôi ở phía “nguồn”, xa biển cả mấy chục cây số. Ngày trước đường giao thông, phương tiện đi lại hạn chế. Ngày thường để có được con cá tươi, cá hấp của biển còn khó huống gì ngày đông mưa gió sụt sùi. Vì thế các móm “mắm” như mắm cái, mắm dưa, mắm thính… đã trở thành thực phẩm “chủ lực”, “chính vị”.
Xa quê đã mấy chục năm, ngày nay nguồn thực phẩm dồi dào, thịt thà, cá tôm ê hề, nhưng mỗi lần đông về, trời trở lạnh lại nhớ món mắm thính ngày xưa của mẹ!
Mắm thính là món cá được muối với bột thính. Thính là loại bột gạo hoặc bắp (chủ yếu là bắp) được rang chín cho thơm và giả vụn. Công thức nghe thật đơn giản nhưng muốn có món mắm ngon luôn cần có tay nghề lẫn bí quyết!.
Làm mắm thính
Nguyên liệu để làm mắm thính là các loại cá gần bờ và chủ yếu là các loại rẻ tiền như cá nục, cá de, cá trích, cá chuồn…Nhiều người vẫn bảo có món mắm thính cá thu, cá ngừ …rất ngon nhưng thực tình quê tôi là vùng “chó ăn đá, gà ăn muối”, cả tuổi thơ của tôi chưa bao giờ được thấy lát cá thu, nói gì đến việc đem loại cá cao cấp này… làm mắm!
Thường vào khoảng tháng 6, 7 là vụ cá nam, cá nhiều và rẻ, lại gần đến mùa mưa lụt, mẹ tôi thường mua cá về để làm mắm. Trước hết bà làm sạch ruột cá, lấy mang, chặt bớt đuôi, vây cho gọn. Dùng nước muối nấu sôi để nguội rửa sơ qua cá cho sạch rồi để trên rổ cho thật ráo. Xong sắp cá thành từng lớp trong vại sành, cứ một lớp cá lại rắt một lớp muối. Vừa làm bà vừa dạy cho chị tôi, cứ 3 cá, một muối. Ít muối quá cá sẽ mềm, nhiều muối cá sẽ quá mặn. Khi vại đã đầy bà cho một chiếc vĩ bằng tre đậy lên trên và chèm cho thật chặt để muối dễ thấm đều vào cá, xong đậy lại thật kín.
Khoảng mười ngày sau, cá đã thấm muối, chín và cứng, bắt đầu dậy mùi. Bà cho vớt cá ra khỏi lu, lấy tay ép nhẹ từng con cá để gọi là cho bớt mặn và cho con cá được cứng.
Quê tôi thính được làm bằng hạt bắp. Mẹ tôi vẫn bảo nếu có gạo hoặc nếp càng tốt nhưng cao cấp qúa. Bắp được rang với lửa củi, lửa không được cháy lớn để cho bắp được chín đều và không bị nổ. Khi bắp chín vàng và có mùi thơm là được. Để bắp nguội đem giã nát nhưng không được mịn quá.
Công đoạn cuối cùng là trộn cá với bột thính. Bột thính sẽ bám thành lớp dày quanh con cá. Sau đó đem cá thính xếp thành lớp vào trong lu hoặc hủ chèn thật chặt, lấy lá chuối hơ lửa và mo cau bịt kín miệng hủ rồi đem dang nắng vài tháng là đã có mắm thính để ăn. Trong mấy lu mắm thính mẹ tôi luôn đánh dấu một lu đặc biệt, lu nầy thể hiện bí quyết làm mắm của bà. Đó là việc đổ thêm trong lu một lượng nước mắm có pha nước đường bát đã “thắng” vừa độ tới. Bà thường bảo, loại đặc biệt ni mà ăn vào ngày mưa lũ, giá rét thì … đau gạo, đau cơm lắm! Thế mới biết ngày đó quê tôi nghèo đến mức nào! Thêm có tý nước mắm tí đường là đã trở thành “đặc biệt”, “cao cấp”!.
Ăn mắm thính
Cách ăn mắm thính cũng đơn giản như cách làm nhưng lại món cực kì khoái khẩu.
Ngày đông tháng giá, “bạn biển” (chữ dùng của mẹ tôi) không lên được, hoặc không đi chợ được thì mắm thính trở nên … đắc dụng. Chỉ việc gắp vài con mắm bỏ vào tô đem chưng vào nồi cơm đang cạn. Khi cơm chín thì mắm cũng chín và có thể ăn ngay. Cầu kì hơn (đối với quê nghèo) trước khi chưng vào nồi cơm bỏ thêm vào tô mắm ít tiêu, ớt bột và vị tinh (mì chính), sang hơn thì thêm ít tép mở.
Mắm thính cũng có thể đem kho, đem nướng lá chuối trên than hồng. Mắm thính kho sẽ làm cho mắm béo (nhờ dầu phụng) và ngọt hơn nhờ đường và vị tinh. Lấy lá chuối gói con mắm lại rồi nướng trên lửa than sẽ có món mắm thính thơm và giòn hơn. Mắm thính quê tôi còn được ăn với rau luộc (lang, muống, cải…).
Quê nghèo của tôi, món mắm thính chỉ đến mức đó! Thế nhưng những ngày mưa gió, rét mướt bên bếp lửa, bới chén cơm nóng hổi từ trong nồi còn đang vần tro nóng, gắp miếng mắm thính trộn đều, và vào miệng chưa kịp nhai đã muốn nuốt… vì ngon quá, cái ngon mà ngôn ngữ không diễn tả được và sau này khi lớn lên có dip được ăn nhiều món ngon vật lạ vẫn không tìm được lại cảm giác thăng hoa đó!
Sau này ra Huế học tôi mới được thưởng thức món mắm thính cao cấp hơn của dân “quý tộc” ở … kinh đô. Người ta đem mắm thính kho với thịt ba rọi thêm chút mắm ruốc và các loại gia vị “cầu kì” của Huế. Có khi người ta chế biến món mắm thính hấp trứng . Mắm thính lóc hết thịt, bỏ xương, sau đó băm nhuyễn rồi trộn với vài cái trứng vịt đánh đều, thêm ít thịt heo nạc băm nhỏ, dầu và gia vị, sau đó đem hấp chừng 15 phút cho chín. Những món này thường ăn với rau sống gồm khế, chuối chát (có khi thay bằng trái vả), rau thơm. .. Nhưng hình như đối với tôi nó vẫn không có được cái “mặn mà” của mắm thính quê nhà!
***
Biết em ưa móm mắm thính nên mỗi dịp tôi từ Sài Gòn về thăm quê vào mùa đông, lần nào chị tôi ở quê cũng chuẩn bị sẵn mấy đĩa mắm thính để chiêu đãi. Và mỗi lần như vậy chị đều bảo với các con: món đặc biệt dành cho cậu! Nhìn đĩa mắm thính, nhìn dáng chị gầy gò, quê mùa đang tất bật, tôi lại thương chị, nhớ mẹ, nhớ một thời tuổi thơ gian khó, nước mắt cứ… chực trào!.
Lê Thí
Thứ Năm, 21 tháng 9, 2023
Thơ Hồ Ngạc Ngữ: DIỆU PHÁP LIÊN HOA
Rồi sẽ gửi chút tro tàn ở lại
Những cuộc đời như lá rụng chiều hôm
Mây vẫn bay, phương trời nào, bay mãi
Quê nhà xa, ngày đã vội hoàng hôn
Rồi sẽ nói với nhau lời đã muộn
Một đời người cũng chẳng có gì vui
Em có thấy bao nhiêu điều ước muốn
Hơi thở im, một thoáng, đã xa rồi
Thôi, hãy dọn lòng mình, thu xếp lại
Những ân tình rồi sẽ trả cho nhau
Như người trồng cây đợi chờ hoa trái
Như yêu thương đợi đến lúc bạc đầu
Rồi sẽ chuyển cuộc đời sang kiếp khác
Hạt giống bây giờ sẽ trổ mai sau
Không còn chỗ cho những gì được mất
Hương sen thơm từ bùn đất nhiệm màu
HỒ NGẠC NGỮ
21/09/2019
Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023
Lê Hồng Phúc: GÁNH HỒNG NHAN ....
Chợ phiên mẹ gánh gió đông
Chắt chiu đem đổi nắng hồng nuôi con
Liêu xiêu bóng mẹ đường mòn
Thúng đời một gánh, thúng con một gồng.
Cánh cò lạc giữa cơn giông
Bàn chân mẹ lạc khắp đồng lúa xanh
Nắng hè rám bưởi trên cành
Nắng đời rám cả tóc xanh bốn mùa.
Mưa dầm làm khế thêm chua
Mưa đời làm mẹ già nua mỗi ngày
Mẹ thời như ớt trên cây
Lặng thầm xanh vỏ mà cay trong lòng.
Vai gầy gánh cả bão giông
Gom thành tiếng hát ru nồng canh thâu
Thúng nào mẹ gánh cơ cầu
Thúng nào mẹ gánh bể dâu cuộc đời.
Thúng nào gánh nước mắt rơi
Thúng nào gánh trọn những lời thế gian
Chợ đời gánh mảnh trăng tàn
Thúng ơi mẹ gánh hồng nhan riêng mình.
Tác giả: Lê Hồng Phúc
Thứ Tư, 14 tháng 6, 2023
Hữu Dũng: NHỚ MÍT TRỘN QUÊ NHÀ
Mấy hôm nay trời oi bức, ngồi lai rai cùng mấy ông bạn già ở gốc mít nhà anh Bè nghe tu hú lảnh lót vọng về khiến lòng tôi nhung nhớ đến thèm thuồn món mít trộn quê nhà.
Hồi đó, vườn nhà thường trồng ba giống mít: Mit ướt, mít nghệ và mít ráo. Trong đó mít ráo được người làng yêu chuộng hơn cả. Bởi công năng của nó ngoài việc cho gỗ để làm hàng mộc, quả mít ráo được chế biến nhiều món ăn. Nhớ lại những năm thời hoa lửa, ruộng đồng bị bom cày đạn xới, người làng thiếu đói, nhiều gia đình nhờ mít để ấm lòng. Vả lại, thổ nhưỡng ở quê tội phù hợp với giống cây này. Đến thời kỳ cho quả, có cây có đến trên trăm trái. Chúng mọc thành chùm, lúc ngúc khác nào như đàn lợn con vây quanh bầu vú mẹ.Mít chín múi vàng ươm, bọng nước thơm lừng. Từ quả mít được đôi bàn tay khéo léo của các chị, các mẹ chế biến nhiều món ăn ngon miệng. Chẳng hạn, qủa mít già bóc xơ đem hông ăn vừa bùi vừa ngòn ngọt. Hột mít luộc chín vừa bùi vừa béo. Mít non dùng để nấu canh, đặc biệt kho với cá chuồn muối sươi. Ở đây mình nói thực lòng nghe: Món dân dã này thì cơm mấy cũng không vừa, khó món ăn nào sánh kịp. Vì vây mà nó được đi vào thi ca đối với người dân xứ Quảng. “Ai về nhắn với bạn nguồn/ Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên”.
Trong các món ăn chế biến từ quả mít thì người làng khoái khẩu hơn cả vẫn là mít trộn. Nguyên liệu để làm món ăn dân dã này cũng thật giản đơn. Trước hết chọn quả mít non không bi sâu bệnh mập mạp, thịt chắc; rồi dùng dao gọt bỏ lớp vỏ xanh bên ngoài, bỏ cùi bên trong, cắt thành từng miếng bằng nắm tay người lớn. Sau đó đem luộc. Khi mít vừa chín tới, thì vớt ra rổ để nguội, rồi dùng dao xắt nhỏ. Phía bếp đặt chảo khử dầu mà phải là dầu phụng chính hiệu Điện Thắng mới đúng đô. Dầu vừa chín thì nhắc chảo khỏi bếp để nguội, tiếp đến thả mít vào chảo trộn đều cùng thịt heo ba chỉ, muối, bột ngọt, đường, tiêu, chanh, ớt. Nên nhớ món mít trộn mà thiếu rau răm, rau húng và đậu phụng rang thì hương vị của nó xem như mất đi một nửa. Đâu vào đấy dùng muỗng xúc ra đĩa. Để tô điểm đĩa mít trộn thêm phần đẹp mắt, hấp dẫn các mẹ, các chị dùng ớt đỏ cắt tỉa hình cánh hoa bày lên trên.
Ăn mít trộn là phải ăn nhứ thế này mới ngon: tuyệt đối không gắp bằng đủa, bằng thìa mà phải dùng tay xúc bằng bánh tráng nuớng, nhưng là bánh tráng Phú Chiêm, Điện Phương mới hợp gu. Thưởng thức mít trộn nên ăn từ từ, thong thả mới cảm nhận hết hương vị độc đáo của nó, bùi bùi, beo béo của mít non. Chua chua, cay cay ngòn ngọt của đường, của ớt, của chanh. Giòn dai của bánh tráng, đậu phụng, thịt heo ba chỉ. Mùi thơm dịu ngọt của húng, răm ... nếu có thêm chén đế phụ họa thì càng hấp dẫn, ăn hoài không biết ớn. Do vậy mà món ẩm thực này người làng dủng để thết đãi bằng hữu, người thân đi xa về thăm quê hay các thành viên gia đình đoàn tụ.
Sau ngày giải phóng, hướng ứng chủ trương xóa vườn tạp, phát triển mô hình kinh tế vườn để thoát nghèo, cho nên vườn nhà ở quê tôi thay dần các loại cây truyền thống. Họ nhà mít cũng chịu chung số phận lần lượt suy tàn. Thay vào đó giống cây mới có tiềm năng kinh tế. Theo đó món mít trộn thưa dần trong mỗi gia đình
Bản thân tôi cũng có thời ngược xuôi được may mắn thưởng thức nhiều món ăn đặc sản các miền, nhưng đâu cũng không bằng mịt trộn quê nghèo. Đến bây giờ cứ mỗi độ giêng hai, nghe tiếng tu hú, thấy cá chuồn xanh ngời từ biển Địện Dương về khu phố chợ làng là lòng tôi mường tượng hương vị mít trộn như đang lẫn quẫn đâu đây, khiến nỗi thèm thuồng trong tôi trổi dậy và dạt dào niềm cảm xúc lâng lâng khó tả.
H.D
Thứ Tư, 13 tháng 4, 2022
Hòa Văn: PHẠM PHÚ THỨ SÁNG CHẾ XE ĐẠP NƯỚC, XE TRÂU Ở LÀNG ĐÔNG BÀN
Như nhiều làng quê xưa ở Điện Bàn (Quảng Nam) đất đai tiếng là màu mỡ nhưng dân làng Đông Bàn quanh năm cơ hàn do chỉ sản xuất lúa gieo, trồng khoai trồng sắn... tất cả được mất trông ở trời. Gặp năm hạn hán mùa màng thất bát, năm thuận cỏ dại mọc nhiều hơn lúa nên công chăm sóc nhổ cỏ rất cực nhọc, năng suất trúng lắm cũng chỉ đạt trên 10 ang một sào.
Tình cảnh ấy kéo dài cho đến khi cụ Phạm Phú Thứ - Tiến sĩ, người con của làng, đưa mô hình xe gió ở Ai Cập về quê làm thành xe đạp nước, phục vụ cấy lúa nước, cuộc sống dân làng mới khấm khá.
Đó là vào tháng 6 năm 1863, nhân chuyến đi Pháp và Tây Ban Nha theo dụ vua Tự Đức nhằm điều đình chuộc lại 3 tỉnh ở Nam Kỳ. Hành trình dài gần một năm từ 21. 6. 1863 đến 28. 3. 1864, cụ Phạm Phú Thứ đã học kỹ thuật làm xe "đạp nước" của dân bản xứ ở Ai Cập và khi về nước truyền lại cho dân làng Đông Bàn.
Xe đạp nước được chế tác từ các vật liệu sẵn có tại địa phương. Một bánh vành bằng tre đường kính 10- 12 mét, các thanh tre kết nối quanh một trục ngang gỗ lim hoặc gỗ trầm thị, trên vành tre lắp đặt ống tre một đầu kín cách đều nhau nghiêng theo một chiều 20 độ, các ống tre nầy dùng để múc nước từ dưới ao (hồ), đìa đưa lên mương máng. Hệ thống xe đạp nước đặt cố định trên bờ ao, đìa làm sao cho vành tre quay theo trục ngang khi có lực đạp đều lên thanh tre ngang trên vành, một xe đạp nước và một ao, đìa nước chiếm diện tích khoảng 1 sào đất, thường đặt ở trung tâm cánh đồng để tiện cho việc tưới nước. Trung bình một hồ xe cung cấp đủ nước tưới cho 2 mẫu (1 ha) ruộng.
Sau khi có xe đạp nước hơn 100 mẫu ruộng làng Đông Bàn xưa trở thành đồng lúa nước, năng suất tuy chưa cao (khoảng 25 ang/ sào), nhưng hồi đó đã là tiến bộ đáng kể. Để tính thời gian phiên nước bà con nông dân dùng trục chỉ quấnồìa trục ống tre cắm cố định nối với trục của xe đạp nước. Một chỉ nước (tức là hết 1 trục chỉ) bằng 120 vòng quay (khoảng 1 giờ) thì nước đủ tưới khoảng 1 sào lúa với mực nước ở ruộng trên dưới 1 tấc.
Sau này dân làng Đông Bàn cải tiến xe đạp nước thành xe trâu. Xe trâu xử dụng các thiết bị như xe đạp nước, có thêm 2 bánh xe răng cũng làm bằng gỗ mít ròng đường kính 0,5 mét và một trục gỗ lim (hoặc gỗ trầm thị) dài 7- 8 mét, đường kính 0,25 mét. Hệ thống nầy cài vào cổ trâu (ách trâu) khi trâu đi vòng quanh trên một thửa đất bên đìa (ao); lực kéo của trâu làm cho vành bánh xe nước quay, đưa nước từ đìa lên mương máng tưới ruộng. Năng suất xe trâu nhanh gấp 3 lần đạp nước. Một xe trâu tưới đủ nước cho hơn 5 mẫu ruộng. Cho đến năm 1965, ở làng Đông Bàn có 17 xe trâu và 5 xe đạp nước với đầy đủ hệ thống mương nội đồng.
Từ xe đạp nước, xe trâu ở làng Đông Bàn, về sau nhiều nơi trong ngoài tỉnh Quảng Nam làm theo và trở thành công cụ thuỷ lợi phổ biến phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Ngày nay, trên cánh đồng làng Đông Bàn xưa (thôn Nam Hà 1, Nam Hà 2, Tân Bình 3, Tân Bình 4, xã Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam) còn di tích nhiều ao (hồ), đìa, mang tên của chủ các xe đạp nước, xe trâu như Đìa xe trâu (còn gọi là hồ xe) các ông Hương Hẳn, Thủ Cầm, Thủ Thị, Xã Thành, Hương Triệu, Trùm Cũ, Tư Quán, Cửu Chương, Cửu Thám...
Nhắc lại một công cụ hữu ích: xe đạp nước, xe trâu một thời gắn bó với bà con nông dân, càng nhớ về cụ Phạm Phú Thứ- người con của quê hương Điện Bàn, Quảng Nam với tư tưởng canh tân đất nước nổi tiếng.
Hình ảnh xe đạp nước, xe trâu nếu được tôn tạo đặt ở một vị trí gần khuôn viên lăng mộ cụ Phạm Phú Thứ (ở thôn Nam Hà 1, xã Điện Trung) chắc sẽ góp phần ý vị cho du khách đến đây trước thắp nén hương kính tưởng nhớ cụ, sau thưởng lãm công cụ thuỷ lợi nổi tiếng một thời.
Hòa Văn
Thứ Ba, 29 tháng 6, 2021
Ngô Văn Cư: Truyện ngắn LÀM ĐĨ
Nhà văn Ngô Văn Cư
Cảm giác bị theo dõi, không tin tưởng luôn đè nặng tâm trí Thao. Mỗi lần nhìn Nhi Ngọc vui vẻ với vô vàn đồ chơi, chị lại thương quay quắt con bé Thúy phải ngồi
trong củi đợi mẹ về. Không ít lần chị phải cố giấu giọt nước mắt. Việc làm nhẹ nhàng và có thu nhập để trang trải nhưng áp lực tâm lý làm chị cảm thấy mệt mỏi.
Ở nhà, còn biết bao chuyện phải lo. Quý, chồng Thao, bị tai nạn sập giàn giáo. Từ khi xuất viện, anh chỉ cử động được mỗi tay, còn đôi chân dù đã cố gắng hết mức
nhưng vẫn không thể nhúc nhích. Bác sĩ động viên nếu tĩnh dưỡng, tập tành thì vẫn có thể phục hồi được. Nhưng liệu phép màu có xảy ra? Thao luôn xoa bóp và giúp
chồng tập luyện cơ thể để vượt qua tâm lý buông xuôi. Cô chỉ yêu cầu anh canh chừng bé Thúy đang nhốt trong củi cạnh chỗ nằm. Anh có thể vói tay ra khỏi thành
giường và lên tiếng khi con bé quấy khóc. Chỉ bấy nhiêu thôi là chị có thể yên tâm kiếm tiền lo thuốc thang và chi tiêu. Đã nửa năm rồi, đôi chân của Quý có nhiều
triển vọng nhưng tiền bạc cũng đòi hỏi nhiều hơn. Nhưng Thao còn biết làm gì khác ngoài việc làm osin theo giờ này. Chị cũng dò hỏi nhiều nơi nhưng chưa có
nơi nào thu nhập cao, nhẹ nhàng và ổn định như ở đây. Cứ lo xong việc người, chị lại bù đầu vào việc nhà mà không một lời ca thán. Chị an ủi, thôi phận mình nó
thế!
Cho đến một ngày…
Cuối tuần. Sau tiết mục giao lưu với bè bạn, bà chủ tiếp tục vui chơi trên sàn nhảy. Ông chủ phải về với Nhi Ngọc. Hình như rượu làm ông chủ đánh mất vẻ đạo mạo vốn có, không còn giữ tác phong lịch lãm. Ông đã lao vào Thao như con thú nhịn đói lâu ngày. Mặc cho chị chống cự, van xin
nhưng con thú hung dữ, mạnh bạo, dâm loạn trong lòng ông chủ đã sổng chuồng và mặc sức tung hoành, dày vò trên thân thể chị.
Chị uất ức nhìn sự thỏa mãn trên khuôn mặt bóng nhẫy và sự lạnh lùng của kẻ chỉ biết chiếm
đoạt mà thấy lòng mình trống rỗng như đánh mất thứ quý giá nhất. Chị cắn chặt môi, cầm cự với tiếng nấc nhói lòng, trôi bồng bềnh giữa nỗi đau và bất
lực. Chị hổ thẹn, nhục nhã, rã rời nghĩ đến những người quen thuộc; người chồng bất hạnh đang nằm liệt giường; đứa con nhỏ dại một mình với những thứ đồ chơi cũ kỹ… Chị vịn vào đâu để khóc bây giờ? Chị cảm thấy mình
thật có lỗi với chồng con và lúc nào cũng cảm thấy bà chủ đang dò xét mình.
Chị dặn lòng đừng bao giờ để ông chủ có dịp lần nào nữa. Thế nhưng, có lúc chị lại an ủi với cái ý Mình còn gì để mất đâu! Nhất là khoản tiền được ông
chủ cho thêm để mua sự im lặng. Số tiền này có thể cho chị đủ để lo cho chồng con… Những lời tỉ tê, xa gần rằng bà chủ chỉ ham vui chơi; thiếu trách nhiệm làm vợ, làm mẹ; không còn mặn nồng tình nghĩa vợ chồng như trước; thương chị hiền lành… là vũ khí ông chủ tấn công Thao.
Chị thì mặc kệ những lời lấy lòng kia nhưng vẫn có lần thứ hai, thứ ba và những lần khác nữa đã xảy ra. Chị tắc lưỡi cho qua. Cuộc đời không cho chị qua.
Mặc dù ông chủ kiểm tra để xóa hoặc tránh những nơi camera có thể ghi hình nhưng bà chủ vẫn bắt gặp một đoạn clip giữa chị và ông chủ. Lại một buổi chiều
cay đắng, chị đối diện với bao ê chề, tủi nhục. Đứng trước một xấp tiền cũng gọi là mua sự im lặng, Thao nghe bà chủ chì chiết:
-Tôi không ngờ cô là người đổ đốn, lợi dụng lòng tốt của tôi…
Hãy cầm tiền và cuốn xéo khỏi đây! Đừng để tôi gặp mặt… Đồ đĩ…
Rất nhiều lời lẽ khó nghe khác nhưng Thao chỉ nghe có thế.
Nhìn khuôn mặt đểu cáng và đồng lõa của ông chủ, chị muốn quăng xấp tiền vào
mặt nhưng tiếng Đồ đĩ cứ dội âm âm vào tâm trí chị. Ừ, là đĩ thì chị làm chuyện kia chỉ vì tiền nên chị cầm xấp tiền và quay đi, không một tiếng giã biệt.
Ừ,thì Đồ đĩ! Ừ, thì Làm đĩ! Chị đã rơi vào cái nghề được xem là hạ lưu nhất trong xã hội khi nào vậy? Chị nghĩ đến chồng đang bại liệt, nghĩ đến con còn nhỏ dại và nhiều thứ khác để đi đến một quyết định…
Thao bắt đầu đối diện với muôn mặt đời thường. Chị phải bôn ba với nhiều việc làm nhưng trụ lại với việc bán vé số, một nghề không cần nhiều vốn và kiến thức. Mọi người xầm xì là chị bán đắt có thể là do ở dáng dấp bề
ngoài. Thao không đẹp. Chị chỉ cân đối, dễ nhìn, trắng trẻo cùng với giọng nói nhỏ nhẹ vì quen chịu đựng khiến chị không lẫn vào những người lang thang bán vé số. Với xấp vé số trên tay, chị lê la khắp hang cùng ngõ hẻm; khắp quán sá, tụ điểm… Nhưng ai cũng biết chị ngoài việc bán vé số
còn bán cả những thứ khác nữa. Nói trắng ra là chị làm đĩ. Chị cần tiền và phục vụ những kẻ thừa tiền, ham của lạ. Mặc cho người ta dày vò và thỏa mãn, chị không quan tâm miễn là có tiền… Chị đã lên giường với nhiều hạng người khác nhau: giàu có, sang trọng, địa vị xã hội cao, nghèo khổ, lao động nặng nhọc… nhưng tất cả họ đều giống nhau khi đã trút bỏ hết áo quần. Không còn vẻ đạo mạo, khệnh khạng hay khúm núm, tất bật; không còn những lời ngọt mật mà trần trụi thô lậu, phàm phu, tục tỉu nhằm làm dịu cơn dục vọng mặc nỗi ê chề mà chị phải đón nhận. Với nghề mạt hạng này, Thao biết có thể làm tan nát một gia đình; làm sụp đổ đường thăng tiến, công danh một con người nhưng chị lại có cái nhìn khác khi gặp một tình
huống trớ trêu. Chị bị bắt khi đang trên giường cùng với một người đàn ông không mảnh vải che thân; bị đưa về đồn; bị quy vào tội bán dâm. Người xử lý chị là một cán bộ đứng tuổi, chị quen, rất quen. Đó là khách của chị. Chị đã nhiều lần lên giường với anh ta. Không phải vì anh ta có tiền, cũng không phải đẹp trai hay có sức khỏe mà vì chị muốn yên ổn hành nghề ô nhục này. Cũng có thể gọi là một cách hối lộ. Một sự thỏa thuận hay lợi dụng lẫn nhau.
Chung thuyền. Nhưng bây giờ, anh ta đại diện cho luật pháp, Thao là kẻ có tội. Những lời lẽ giáo huấn, răn đe để xã hội tốt đẹp, yên ổn vừa mềm dẻo vừa khô cứng của người cán bộ như một bài học thuộc lòng lại biến thành tiếng thở hổn hển của người đang làm tình dội vào tai Thao. Chị bị phạt hành chính và nhắc nhở. Trước khi ra về, người đại diện pháp luật nói riêng với chị: Chiều mai, sáu giờ, vẫn chỗ cũ. Nhá! Nếu chị không dằn lòng thì đã buột ra hành lời: Đồ đĩ miệng! Chị chấp nhận bán trôn nuôi miệng còn hơn
vạn lần kẻ bán miệng, bán linh hồn để sống. Nhưng chị hơi đâu để ý. Chị phải vội về với người chồng bại liệt và đứa con còn nhỏ dại.
Thao vẫn phải kiếm tiền. Chị vẫn phải rảo chân trên đường phố, quán xá để góp nhặt từng đồng. Nhiều người gọi chị làm đĩ. Ừ thì làm đĩ nên biết bao lời tán tỉnh của những gã đàn ông quen thói trăng hoa không hề làm chị
động lòng, xem đó là không nghiêm túc thoáng qua nhưng chị vẫn sẵn sàng lên giường với bất cứ gã nào có tiền. Chị cần tiền, thế thôi. Nói không ngoa
là chị đã có kinh nghiệm hơn từ khi bị bắt. Chị cẩn trọng và không thể dễ
dãi. Chị kiếm tiền bằng cách đu đưa với đàn ông. Chị là đĩ bán chuyên nghiệp! Chỉ từ khi bệnh tình của anh Quý có dấu hiệu hồi phục, đã tự ngồi
được dẫu còn khó khăn, đau đớn, anh có thể chăm sóc bản thân và chơi đùa với con, Thao bỏ hẳn việc bán vé số dẫu rằng thu nhập từ nó cũng khá. Gia
đình đã ấm áp trở lại với những tiếng cười, tiếng nói vui tươi. Tiền vẫn cần
nhưng Thao cần cuộc sống yên ổn và gần gũi chồng con hơn, chị mua máy may và nhận gia công quần áo tại nhà cho công ty may mặc, chấm dứt việc lang thang trên phố với xấp vé số. Cuộc đời đâu để ai muốn là được. Đôi lúc chị nhận cuộc gọi từ những máy lạ hẹn hò nhưng khi chị từ chối thẳng thừng
thì cũng không ai làm phiền. Duy chỉ có một số máy bám riết chị vào mỗi buổi chiều. Chủ số máy khoe là đã điều tra rõ ngọn nguồn sinh hoạt của Thao và hắn khẳng định là đã từng thâm nhập vào đời sống riêng tư của chị,
biết rõ chị. Giọng nói qua điện thoại, chị không biết là ai, bởi chị có để ý đến
người đàn ông nào khác, ngoài chồng! Hắn hẹn đến nhà nghỉ để trao đổi. Bị từ chối. Không nghe máy. Hắn khẳng định là trong tay hắn có những tấm
hình nhạy cảm của Thao trong những nhà nghỉ. Hắn nhắn tin dọa sẽ đưa chuyện chị bán dâm lên truyền thông. Một con người lì lợm và khó chịu.
Hắn tự giới thiệu là một văn nghệ sĩ từng có bài đăng ở báo cấp tỉnh khiến chị hoang mang. Đành phải hẹn… Lại đánh đổi để lấy sự im lặng của hắn. Chị ngỡ chỉ cần lên giường một lần là bịt được mồm hắn. Chị lầm! Rất lầm!
Hắn bám chị như đĩa bám chân trâu, chị lại sợ vốn chữ nghĩa của hắn. Nếu hắn viết bài đăng báo, chị thì không đọc bao giờ, nhưng sẽ có nhiều người
đọc. Hắn cứ khuấy cho đời chị xáo trộn, chị thì muốn yên ổn. Thà rằng chỉ một vài người biết việc xấu xa chị đã từng làm trong quá khứ còn hơn lên
mặt báo để mọi người cùng biết và có khi nó lưu giữ đời đời. Nhục chết!
Nhiều lần chị muốn nói thật với chồng cho lòng nhẹ bớt và chịu sự trừng phạt hay tha thứ nhưng chị chưa dám bởi bệnh anh Quý vẫn chưa thuyên giảm hẳn. Chị phải chấp nhận những đòi hỏi của hắn… Ngày trước chị làm đĩ là để kiếm tiền, nay thì kiếm sự im lặng. Dẫu kiếm gì đi nữa, chị vẫn là làm đĩ! Mà làm đĩ với nhiều người để được tiền sẽ dễ chịu gấp ngàn lần với làm đĩ cho một người khi lòng nơm nớp lo sợ. Một nỗi sợ mơ hồ xâm lấn tâm hồn chị vào mỗi khi tiếng chuông điện thoại reo. Chị sợ mỗi lần hắn tỉ tê rằng “Gia đình anh không hạnh phúc”, “Hãy để anh chăm sóc cho em”,
“Anh cần em và bất chấp quá khứ”… Chị rạch ròi giữa tình yêu gia đình và
công việc, chưa hề yêu thích khách hàng của mình, nhất là hắn. Nhưng tự bao giờ chị thành nô lệ tình dục cho hắn? Và bây giờ chị mới đau khổ biết
rằng đã phản bội Quý, dù rằng bị ép buộc. Không hóa đơn, không hợp đồng, không ràng buộc, không trách nhiệm, cứ xong cuộc mây mưa thì ai về nhà nấy nhưng chị làm sao giải thích với mọi người được khi việc đi lại rành
rành như thế? Chị héo hắt với muôn ngàn nỗi éo le. Và một buổi chiều éo le đã đổ ập vào chị, vào gia đình chị.
Một người đàn bà đi cùng hai người khác đến tận nhà Thao giới thiệu là vợ của văn nghệ sĩ. Và một trận đánh ghen tơi tả nơi tổ ấm chị đang vun đắp. Những tiếng cướp chồng, giựt chồng, làm đĩ cùng với tiếng đấm tiếng
đá xảy ra ngay trước mặt Quý. Anh chết trân nhìn vợ bị đánh ghen mà không thể làm gì được. Đứa con nhỏ thấy mẹ bị đánh khóc ré lên. Chị cắn răng chịu
đựng, đợi khi bọn người kia đi rồi chị mới tức tưởi khóc. Chị thấy mình thật đáng trách. Đáng xấu hổ. Đáng nguyền rủa. Đáng không được tha thứ. Chị đợi một lời trách móc, giận dỗi; đợi một sự hắt hủi, ghét bỏ; đợi một ánh mắt
khinh bỉ, nổi giận từ chồng. Nhưng chị lại không tin vào tai mình:
-Em đi tắm rửa và lo cơm chiều cho con. Đừng khóc nữa mà con sợ…
-Không! Em có lỗi với anh…
-Anh biết hết rồi!
-Biết hết rồi?
-Không phải ai sinh ra cũng muốn làm đĩ và cũng không ai lựa chọn được số phận của mình. Đời bắt làm đĩ thì phải làm đĩ thôi em à. Anh đã biết chuyện từ khi em nghỉ giúp việc cho gia đình cán bộ kia… Nhưng mà hoàn cảnh…
-Anh…
-Thôi đi! Anh cũng có lỗi bất cẩn trong lao động để em khổ…
-Anh…
- Dù có chuyện gì xảy ra chúng ta vẫn là một gia đình yêu thương và tha thứ lẫn nhau…
-Anh! Em không còn xứng đáng…
Không! Em xứng đáng ngẩng cao đầu hơn vạn kẻ đạo đức giả khác.
Thằng nghệ sĩ, văn sĩ kia mới là kẻ cướp vợ, kẻ làm đĩ đánh đu sự giả dối để lợi dụng… Đó là kẻ đáng phỉ nhổ… Hắn sẽ bị trừng phạt!Thao như người đuối nước gặp được phao. Đang bế tắt thì bị đánh ghen nhưng lại mở cho chị một con đường mới. Trước đây, chị đạp lên miệng đời để sống, không căm giận kẻ xem mình là đĩ; không chửi rủa lại kẻ gọi mình là đồ đĩ. Chị căm ghét công việc này, nhưng đó là cách duy nhất chị có thể kiếm thêm tiền. Chị mặc kệ tiếng thị phi, đàm tiếu sau lưng mà mơ ước có được một gia đình êm ấm, nơi an vui cùng nụ cười chồng con.
Nhiều lần chị thầm khóc khi suy nghĩ về phận đời của mình. Bây giờ chị có thể khóc lớn trước mặt chồng. Hình như anh Quý cũng đang khóc…
Người vợ của văn nghệ sĩ lại tìm đến khi gia đình Thao đã yên ổn. Mụ ta khóc lóc, van xin chị cứu giúp người nghệ sĩ, chồng mụ, khỏi cảnh tù tội.
Chị giật mình khi biết trong điện thoại của hắn có chứa những đoạn phim
ngắn ghi lại cảnh giường chiếu mà nhân vật nữ chính là chị. Hắn ta đã lén
ghi hình bao giờ vậy? Mỗi cuộc nhậu hắn đều khoe với bạn bè như khoe một chiến tích. Và trong một lần như thế, hắn bị bắt về tội tàng trữ và phát tán
hình ảnh khiêu dâm, đồi trụy! Từ đầu mối này, hắn có thể lộ ra nhiều tội lừa đảo khác. Mụ vợ phải chạy vạy, năn nỉ nhiều nơi trước khi cơ quan điều tra
làm việc và nơi này chỉ cần Thao nhận là người tình của chồng mụ, ghi hình để làm kỷ niệm…
-Không ai tin lời con đĩ đâu! Tôi đã một lần làm đĩ. Chuyện đã qua lâu rồi. Với lại, tôi không đĩ miệng để kiếm sống! Tôi không là người tình của ai cả. Hãy để cuộc đời diễn ra đúng trình tự của nó…
- Chị không những cứu chồng tôi mà còn một người nữa nhờ tôi kêu cứu tới chị…
-Ai?
-Chị còn nhớ người đã thả chị khi bị bắt?
-Không!
-Chỉ cần ở một clip, chị nói không nhớ người không rõ mặt kia là ai…
Còn tôi?
-Hình ảnh rất rõ!
-Trời đất! Bọn người chúng bay là bọn vô liêm sĩ. Không dám chường mặt ra cuộc đời mà luôn lên giọng rao giảng đạo đức. Hãy để gia đình tôi được yên. Và nên nhớ rằng tôi chỉ là con đĩ bán trôn đã không còn hành nghề. Hãy để tôi giữ lại chút trung thực còn sót lại…
Và Thao quay sang nựng bé Thúy để mặc mụ vợ nghệ sĩ ngồi ở góc
nhà kể lể những việc làm sai trái của chồng và những người bạn của hắn…
Thứ Hai, 9 tháng 11, 2020
Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2020
Trương Đức Tới: VỚI MƯA
Thơ
Gửi N.Th
Bỗng nghe mưa gọi quê nhà
Đèo mây quán gió ngày xa chưa về
Lòng buồn như tỉnh cơn mê
Một mình tôi giữa bộn bề hư không
Bao năm rồi hỡi dòng sông
Những mùa nước nổi trên đồng ruộng sâu
Đám bèo xanh bỏ bờ ao
Biết đi đâu biết về đâu bây giờ
Lụt tràn ký ức tuổi thơ
Ngập con đường ngập giấc mơ viễn hành
Loài chim di trú bay nhanh
Chỉ kịp gửi một âm thanh khứ hồi
Quê nhà vẫn nhớ thương tôi
Xin đừng để ướt mắt người năm xưa
Tôi còn đây những cơn mưa
Rớt về bến cũ
Đò đưa
Cát lầm.
Trương Đức Tới
(Một bài viết trong mùa lũ 1999.
Ảnh: Phan Tân Lâm)
http://langdongban.blogtiengviet.net/?p=6294460&more=1&c=1&tb=1&pb=1#more6294460
Thứ Ba, 13 tháng 10, 2020
Tiểu Nguyệt: CHUYỆN NGÀY XƯA CỦA MẸ TÔI
Trong lòng tôi sôi nổi bao cảm xúc trào dâng, buồn vui lẩn lộn. Ngang qua thửa ruộng ven đường, tình cờ nhìn thấy một phụ nữ đang cúi khom người cấy dặm, đã làm tôi giật mình. Tôi đưa bàn tay lên ngực nén trái tim đang đập mạnh và hít thở thật đều để ngăn bớt sự xúc động, hồi hộp. Hình ảnh mẹ tôi thuở nào chợt hiện ra, như thấp thoáng đâu đây. Tôi luôn gặp mẹ trong những giấc mơ; những cử chỉ, lời nói dịu dàng nhắc nhở, hay bàn tay âu yếm vỗ về tôi những khi tôi gặp chuyện không vui, những khi tôi vấp ngã, đã hằn in trong tâm trí tuổi thơ tôi như được khắc sâu tự bao giờ. Một thời, nhạc phẩm “Bông Hồng Cài Áo” của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã làm tôi xao xuyến rưng rưng mỗi khi nhớ về mẹ - mẹ như dòng suối diệu hiền êm ái chảy qua lòng tôi, cho tôi sự tươi mát hạnh phúc; có khi người là ánh đuốc soi đường thắp sáng trong những nẻo đường gai gốc tôi đi. Hình dáng mẹ trong tôi tuy gầy gò, nhỏ nhắn; nhưng có đôi tay vững chải, đã che chở, sưởi ấm, dẫn dắt năm anh chị em tôi đều đến được bến bờ an vui dù một thân trải qua bao khó khăn, vất vả. Những năm tháng, dù lẩn quẩn trong cảnh túng thiếu, mẹ vẫn luôn nhắc kể về chuyến thăm quê như một niềm vui lớn, một hạnh phúc hiếm hoi của đời bà.
Từ dạo đó, khi không còn mẹ nữa, anh chị em tôi luôn nhớ lời tâm tình tha thiết của mẹ, và năm nào sắp đến tết, anh chị em tôi luôn cùng nhau trở về thăm lại làng xưa; dù nơi ấy bây giờ đã đổi thay, vắng dần người thân yêu cũ.
Trước mắt tôi, kia là gốc đa già đầu làng mà tôi và mẹ đã ngồi nghỉ trong chuyến mẹ con tôi về thăm khi tôi tám tuổi. Chân tôi đau rát khi đi bộ trên con đường đất (bây giờ đã bê tông hóa) dài năm cây số giữa trưa nắng chang chang. Mẹ tôi vỗ về “Con ráng chút nữa là đến nhà” như truyền cho tôi sức mạnh để tôi bước tiếp. Gốc Đa còn sừng sững đấy mà mẹ tôi đâu rồi? Tôi nghĩ, mẹ tôi chắc vẫn đâu đây, người đang dõi theo bước chân chúng tôi với niềm vui, với tình yêu thương vô bờ.
Tôi nhớ, nhớ vô cùng đêm trăng năm nào, trên vuông sân gạch, chúng tôi quây quần bên rổ đậu phụng nấu, mẹ đã kể cho chúng tôi nghe về cuộc đời của cha và mẹ. Tôi nghe tiếng mẹ tôi như còn thì thầm bên tai...
***
Thịnh là trưởng nam của ông bà Chung, một gia đình giàu có ở xã Duy An, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Rồi một ngày, ông bà Chung dạm hỏi Tuyết cho Thịnh và đám cưới được tổ chức trong sự mừng vui của cả làng; bởi Thịnh học giỏi, nhưng không ỷ lại sự giàu sang, mà có lòng thương tưởng đến mọi người . Hơn một năm sau, Thọ - cậu con trai của Thịnh ra đời trong tình yêu thương của cha mẹ, họ hàng. Thọ ra đời đúng vào thời gian cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, lan rộng, đang đi vào giai đoạn quyết liệt nhất. Học sinh ở các trường, từ lớp Bảy đến lớp Chín (1945 - 1951) đều phải tham gia tuyển chọn để sung vào bộ đội. Hạnh phúc chưa được bao lâu thì Thịnh cùng những thanh niên trong làng, theo đoàn quân nam tiến.
Tuyết thay anh chăm sóc cha mẹ, một mực yêu thương, chia sẻ; nhưng cô không thể thay đổi được những lời đay nghiến, quở trách xa gần của mẹ chồng và cô em gái lớn tuổi, khó tính. Tuyết vẫn luôn tự khuyên mình, hãy nên gắng sức làm vừa lòng họ, và cô nghĩ rằng đó là những người thân yêu của anh. Cô yêu quý anh, thương con - nên không thể xa lánh, ghét bỏ họ được.
Tuyết không hiểu sao mẹ và em gái lại đối xử tệ bạc với cô như vậy. Tình yêu thương của cô chỉ được đáp lại bằng sự ghét bỏ, xa lánh! Ngày rời xa gia đình về làm dâu, sống với Thịnh, cha cô đã dặn: “Con nên nhớ, “ái nhân nhân ái chi” - hễ thương người, thì người thương lại thôi !” - nhưng cuộc sống thực tế sao lại vậy? Cái cảnh mẹ chồng nàng dâu và nhất là những cô em chồng lớn tuổi Tuyết đã nghe nói nhiều, nhưng cô không nghĩ cô em chồng lại quá quắt như vậy. Tuyết làm gì họ cũng không vừa ý, và Tuyết như chiếc bóng lẻ loi trong căn nhà thênh thang ấy. Tuyết cô đơn, buồn tủi, nhớ anh và trong lòng cô luôn mơ về một chuyến vào nam để lập nghiệp và cũng là để tìm anh.
Rồi ngày ấy đã đến, như một số phận. Bà Chung nghe lời con gái, khéo léo gọi Tuyết đến ngồi bên, nói sẽ gởi mẹ con Tuyết về nhà mẹ đẻ, vì gia đình bà ngày càng khó khăn. Tuyết cảm thấy uất nghẹn, đớn đau, khi nghe mẹ chồng đòi gởi trả cô về nhà cha mẹ. Cô cũng cảm thấy bên nỗi đớn đau, còn có sự tủi nhục mà cô không đáng phải nhận.
Qua đèo Cù Mông, Tuyết dừng chân ở đất Phú Yên. Cô bơ vơ giữa xứ người. Sau một tháng mẹ con nấn ná tạm bợ nơi hiên chợ, sân chùa; Tuyết đã gặp được bà Hoài, như một duyên lành mầu nhiệm đưa đẩy. Tuyết được bà Hoài nhận làm con nuôi khi tình cờ gặp nhau trong một quán cơm ở bến xe ngoài thị xã. Như có một sự dẫn dắt, sắp đặt - họ đã đồng cảm và cần nhau khi hiểu rõ hoàn cảnh của nhau.
Tuyết theo bà Hoài về nhà. Bà Hoài là một phụ nữ không con, chồng chết, sống một mình ở vùng Thạch Chẩm, xã Hòa Xuân. Gặp được mẹ con Tuyết, bà Hoài rất vui, vì từ đây bà không còn cô độc nữa, bà cũng có con, có cháu vui cửa, vui nhà. Hằng ngày Tuyết cùng mẹ nuôi tráng bánh gánh ra chợ Hòa Xuân bán, và còn phụ giúp mẹ nuôi chăm sóc ba sào ruộng để có hạt ăn. Tuyết dò hỏi tin tức của chồng nhưng không ai biết gì về đơn vị của anh, cô lặng lẽ làm việc, và luôn âm thầm nuôi hy vọng đến một ngày nào đó.
Khoảng đầu Xuân năm 1952, như thường lệ, một buổi sáng gánh bánh ra chợ, Tuyết nhìn thấy một toán bộ đội giăng dây đón bộ hành qua cầu Bàn Thạch để kiểm tra. Có vài người đàn bà gánh gồng, bưng xách im lặng vội quay lại đi lối khác.
Thịnh cũng sững sờ khi nhìn ra Tuyết trong dáng hao gầy, nghèo khó. Anh cầm lấy bàn tay Tuyết mà cứ ngỡ là trong một giấc mơ. Tuyết đang đứng trước mặt anh, đôi mắt dịu hiền đăm đăm nhìn anh, mà không nói được câu nào. Có lẽ, Tuyết cũng nghĩ như anh - mình đang sống trong một giấc mơ chăng?
Cuộc gặp gỡ bất ngờ như một phép mầu, trước sự xúc động của bao người; nhất là những đồng đội của anh. Sau phút ngỡ ngàng, họ ôm choàng lấy nhau mà nước mắt cứ chảy dài…
Tuyết vẫn về ở cùng bà Hoài, cũng hằng ngày tráng bánh mang ra chợ bán; nhưng cô đã biết được tin tức anh, liên lạc được với anh, thỉnh thoảng được gặp nhau ở khu trại của đơn vị anh đóng dưới chân đèo Cả.
Sau bảy mươi lăm ngày đàm phán, Hiệp định Genève về chiến tranh Việt Nam đã được ký kết, hòa bình được lập lại. Sau ngày 20 tháng 7 năm 1954 tin “đình chiến” đã được loan báo rộng rãi, đem lại niềm vui to lớn cho toàn dân Việt, sau 9 năm gian khổ. Thịnh không theo đơn vị tập kết ra Bắc, xin được ở lại, đưa mẹ con Tuyết cùng bà Hoài về lập nghiệp tại Hòa Mỹ. Anh đã chọn nơi này làm quê hương thứ hai.
Anh cũng như Tuyết, chăm sóc bà Hoài như mẹ ruột, rất mực hiếu thảo. Bà không sinh ra Tuyết, nhưng nuôi dưỡng, đùm bọc mẹ con cô lúc khốn khó, bơ vơ. Cuộc sống hai vợ chồng anh êm đềm bên đồng ruộng, bên vườn rau, ao cá mà anh hằng mơ ước. Ước mơ đơn sơ, nhỏ nhoi là vậy, mà anh và Tuyết đã phải trải qua bao sóng gió, gian truân mới có thể thực hiện được.
Tuyết mở một cửa hàng tạp hóa nho nhỏ ngay nhà để bán cho bà con trong làng, còn Thịnh ngày ngày ra đồng chăm lo cho mấy sào ruộng. Cuộc sống khấm khá dần, và những cô con gái của họ lần lượt ra đời như những đóa hoa biết nói: Cúc, Hồng, Mai, Liễu. Thịnh muốn đặt tên cho con là những loài hoa, để mong cho đời con, có thêm ý nghĩa, vui tươi, không như đời của cha mẹ. Bông cúc vàng khoe sắc trước thềm xuân, đóa hồng đỏ thắm xinh tươi chưng trên bàn mỗi ngày, mai vàng rực rỡ báo hiệu xuân về, và cành liễu thắm bâng khuâng bên bờ hồ thơ mộng...
Hòa Mỹ là một xã nằm về phía tây nam thuộc huyện Tuy Hòa - thuở ấy, là một vùng quê có nhiều rừng núi.
Người dân những vùng “xôi đậu” này đã dần quen với những cảnh như thế, vì cuộc sống gắn liền với thửa ruộng mảnh vườn. Ai cũng nghĩ, tiếng súng, tiếng bom không có gì lạ đối với họ, có thể trốn tránh; nhưng chỉ lo sợ đạn lạc thì không chừa ai bao giờ. Và, vào một buổi sáng mùa thu, Thịnh đã nằm xuống khi một viên đạn vô tình oan trái đã bay lạc vào giữa ngực anh. Anh chỉ kịp nói với vợ bằng tiếng đứt quãng, thì thào “Em đưa các con lánh đạn bom, xuôi về dưới huyện…” rồi trút hơi thở cuối cùng trong tiếng kêu gào, than khóc của vợ con.
Thịnh đã nằm lại đây khi cả nhà phải chạy về phố huyện. Sau cái chết tức tưởi nhanh chóng của Thịnh, tiếng nổ ngày càng nhiều, cảnh chết chóc tang thương diễn ra thường xuyên trong làng, ngoài bờ ruộng, kiềm giữ mọi người nằm mãi trong hầm trú ẩn. Sau cùng, họ đành cắn răng dắt nhau chạy từng đoàn xuôi về huyện. Tuyết đưa mẹ Hoài và các con chạy theo đoàn người. Ai cũng mệt mỏi vì lo sợ, chân tay rã rời, nhưng vẫn cố dìu dắt nhau mà bước.
Đến Phước Bình thì trời đã tối, mấy mẹ con Tuyết xin ngủ nhờ ở nhà một người ven đường. Ông bà chủ nhà thật tốt bụng, nấu cơm cho mấy mẹ con cô ăn, còn giúp cô tìm mua một miếng đất của người quen để làm nhà tạm ở. Thế rồi mấy mẹ con Tuyết cũng dựng được ngôi nhà nhỏ, lợp tole, bên cạnh chùa Ân Quang. Tiếng chuông chùa công phu sáng tối đã đem lại cho tâm hồn cô những giờ phút an tĩnh, vơi bớt ưu phiền, tin yêu cuộc sống hơn. Và cô đã ngày đêm chăm chút nuôi dạy các con với niềm ước mơ như Thịnh đã nói, rằng các con của mình sẽ học hành đến nơi đến chốn.
Nhà gần chùa, nên các con của cô luôn về chùa lễ Phật, nghe quý thầy cô thuyết giảng, nên đứa nào cũng chăm ngoan, biết thương người và hiếu thuận. Ngoài giờ đến trường, các con của cô luôn phụ giúp mẹ mọi việc trong nhà - nhất là khi cô cần đến. Có lẽ chúng cũng đã nhận ra sự bất hạnh của mẹ, và nỗi khó khổ của gia đình mình?
Tuyết mua củi của những người đi núi hái về, chẻ ra bó từng bó nhỏ rồi gánh ra chợ Tuy Hòa bán. Hai người con lớn của cô phụ mẹ gánh củi, trông nặng nhọc vất vả đấy, nhưng chúng vẫn luôn nở nụ cười chia sẻ với mẹ.
Đến mùa gặt, Tuyết lại ra đồng cắt lúa mướn; người ta khúm công mỗi ngày cũng hơn giạ lúa. Tuyết siêng năng, ai mướn gì cô cũng làm, để có thêm thu nhập, mua sách vở và học phí cho con.
Rồi Tuyết xoay sở mở tiệm tạp hóa lại tại nhà như trước, để đỡ vất vả, có thời gian ở nhà chăm sóc con hơn. Hai chị em Mai và Liễu muốn giúp đỡ mẹ nhưng loay hoay mãi không biết làm gì. Hai đứa rủ nhau đi mót lúa, bẻ măng; Tuyết biết được - rầy la con, vì sợ chúng lơ là việc học.
Sau năm 1975, Tuyết đưa các con trở về Hòa Mỹ - nơi Thịnh đã nằm xuống, gởi nắm xương mình và là quê hương thứ hai mà anh đã chọn để phần nào được gần gũi, sưởi ấm linh hồn anh.
Hằng năm, cứ vào khoảng 17, 18 tháng Chạp Tuyết đều về thăm quê nội, về mái nhà xưa ở xã Duy An, huyện Duy Xuyên như một niềm hạnh phúc không thể thiếu.
Các con của Tuyết đã dần dần trưởng thành, ai cũng được đi học đến nơi đến chốn. Mai, Liễu, Hồng là giáo viên dạy trường gần nhà; Cúc là cán sự điều dưỡng làm ở bệnh viện huyện; Thọ là kỹ sư nông lâm, công tác ở sở Tài Nguyên và Môi Trường. Các con của Tuyết đều đã lập gia đình, ai cũng có cuộc sống hạnh phúc. Hằng năm, các con cô đều tham gia cùng nhau chuyến trở về thăm quê, mà chúng gọi văn vẻ là “Chuyến Về Nguồn”.
Một sáng mùa thu năm 1985 - như anh, Tuyết đã ngủ một giấc dài và không bao giờ trở dậy nữa, sau ngày giỗ của anh. Có lẽ anh đã đón Tuyết khi biết cô đã hoàn thành trách nhiệm với các con. Có lẽ anh và Tuyết đang nắm tay nhau ở một cõi vô hình xa xăm nào.
-Sao mà đờ đẫn thế Liễu? Tới nơi rồi, sao không xuống?
Tôi như vừa trải qua một cơn mê dài, mỉm cười - lật đật xuống xe:
-Dạ! Em xuống liền.
Các cháu - con người em (con cô Ba của tôi) chạy ra chào đón, chúng vui vẻ phụ mang mấy thùng đồ trong xe vào nhà. Lòng tôi bâng khuâng khi ngắm khoảng sân rộng trước nhà, nơi đây ngày xưa cha tôi đã từng chạy nhảy, vui đùa; nơi đây ghi dấu bao kỷ niệm một thời của cha mẹ tôi. Năm nào tôi cũng về đây, mỗi lần về, tôi đều nao lòng với cảnh cũ, người xưa qua lời kể của mẹ. Một cảm giác bâng khuâng không tả được, chỉ biết rằng cái khoảng trời ngày ấy, cả không gian, thời gian như đọng lại nơi đây, làm tôi nuối tiếc, buồn bâng quơ.
Chúng tôi ra thăm mộ ông bà nội, ngoại; thắp nén hương, cầu nguyện.
Chúng tôi cùng dắt nhau đi thăm từng anh chị em họ hàng nội ngoại trong làng. Sự trở về của mấy anh chị em tôi, như sưởi ấm tình thân của họ hàng nội ngoại, như chất keo càng gắn kết chúng tôi lại với nhau. Tôi thầm cảm ơn mẹ tôi, người đã hy sinh cả cuộc đời vì chúng tôi, đã hướng cho chúng tôi biết nhớ về nguồn cội, để được hạnh phúc, để có niềm vui, niềm an ủi lớn lao cho đời mình.
Sau một ngày thăm viếng bà con, họ hàng; anh chị tôi đã mỏi mệt, ai cũng muốn nghỉ ngơi, ngủ bù vì đường xa . Riêng tôi, dù cố gắng nhắm mắt nhưng không tài nào ngủ được. Tôi nằm đó, trăn qua, trở lại với bao hình ảnh quay cuồng trong cái đầu nhỏ bé.
Tôi trở dậy, bước ra sân. Trăng đã lên cao, ánh sáng dịu dàng, óng ả tỏa xuống khắp sân vườn một vùng sáng bàng bạc, mênh mông; và tôi như thấy cha mẹ tôi từ trên cao đang nhìn xuống, mỉm cười.
TÁC PHẨM ĐÃ XB: "KHÚC HÁT YÊU THƯƠNG" (Truyện Ngắn & Tùy Bút) NXB HỒNG ĐỨC
BÀI XEM NHIỀU
-
Quảng Nam có nhiều món mắm cho dù mang nó đến bất kể vùng miền nào không lẫn vào đâu được. Đó là nắm cá cơm than, mắm cá nục, mắm cá thính...
-
Chiều cạn Cạn chiều rồi phải không em câu thơ chặt khúc khi đêm ùa về dọc bờ bóng khuất bên tê lơ thơ nhặt phía nẻo quê nỗi buồn b...
-
Tạp văn Thầy giáo Cần Hồi đi học nhiều thầy, cô đặt vào tâm khảm tôi nhiều dấu ấn đẹp và rất đẹp!. Học lớp vỡ lòng ở quê (làng Đô...
-
Tạp văn Ảnh bão Haiyan ở Phi Ảnh bão Haiyan ở Phi Các nước ở bên bờ biển Thái Bình Dương là nơi ít nhiều đều hứng chịu sự hung dữ của bã...
-
TRUYỆN NGẮN HÒA VĂN Ngó lớn bổng rứa chứ tuổi còn “Ăn chưa no lo chưa tới…”. Mẹ tôi hay nói như vậy với các bà bạn hàng xóm. Qu...











