* Trang Văn học - Nghệ thuật VĂN CÔNG HÒA Làm thơ không chỉ tỏ bày Viết văn không để ngày sau luận bàn Trót mang ba chữ sàn sàn Xin là hơi thở nồng nàn thương yêu Thơ văn tha thiết một điều Mong lòng Nhân Nghĩa ít nhiều trao nhau!. HÒA VĂN * Email: vanqndn@gmail.com Link: vanconghoadb.blogspot.com
Truyện ngắn, Truyện cực ngắn, Tạp văn, Thơ, Bạn văn, Nhạc, Tranh ảnh, VĂN HỌC NGHỆ THUẬT, Truyện dài
- Truyện ngắn (47)
- Quê xứ (43)
- Bạn Văn (42)
- Thơ (41)
- hòa văn (31)
- Tạp văn (26)
- Nhạc-Tranh-Ảnh (14)
- thơ hòa văn (10)
- Trang chủ (7)
- Văn tế (1)
Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2023
CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2024
Ý
𝙻à𝚖 𝚝𝚑ơ 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 𝚌𝚑ỉ 𝚝ỏ 𝚋à𝚢
𝚅𝚒ế𝚝 𝚟ă𝚗 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 để 𝚗𝚐à𝚢 𝚜𝚊𝚞 𝚕𝚞ậ𝚗 𝚋à𝚗
𝚃𝚛ó𝚝 𝚖𝚊𝚗𝚐 𝚋𝚊 𝚌𝚑ữ 𝚜à𝚗 𝚜à𝚗.
𝚇𝚒𝚗 𝚕à 𝚑ơ𝚒 𝚝𝚑ở 𝚗ồ𝚗𝚐 𝚗à𝚗 𝚝𝚑ươ𝚗𝚐 𝚢ê𝚞
𝚃𝚑ơ 𝚟ă𝚗 𝚝𝚑𝚊 𝚝𝚑𝚒ế𝚝 𝚖ộ𝚝 đ𝚒ề𝚞
𝙼𝚘𝚗𝚐 𝚕ò𝚗𝚐 𝙽𝚑â𝚗 𝙽𝚐𝚑ĩ𝚊 í𝚝 𝚗𝚑𝚒ề𝚞 𝚝𝚛𝚊𝚘 𝚗𝚑𝚊𝚞.
𝙷Ò𝙰 𝚅Ă𝙽
1/1/2024
Thứ Bảy, 23 tháng 12, 2023
Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2023
Truyện ngắn Hòa Văn: 🅲🅷🅸Ế🅲 🅻Á
Tặng anh Đỗ Cao Thiên
TẨN ngồi thẫn người trên sân thượng trước bông hoa mới vẽ xong, bông hoa màu đồng nội còn đẫm ướt sương mai không biết bao lâu rồi, có lẽ nửa đêm hay chậm hơn một chút. Nhưng sớm hay muộn bây giờ không quan trọng khi bông hoa tâm tưởng đã nở rồi.
Tẩn nhớ mỗi độ tết đến xuân về, hồi tóc còn để chỏm thường lon ton chạy theo mẹ về Gò Nổi thăm ngoại. Nhiều lúc bị mẹ la cũng chỉ vì mải tần ngần đứng ngắm nhìn những bông hoa cỏ dại nhỏ xíu đủ màu sắc rực rỡ nở thắm ven đường quê, khi ấy hồn vía ở đâu đâu đến nỗi quên lửng đang đi với mẹ.
- Đi… đi… kẻo nắng tới nơi rồi! - Mẹ mắng yêu, rồi nắm tay kéo đi như chạy.
Gò Nổi đẹp và nổi tiếng là đất học có nhiều danh nhân như Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu, Trần Cao Vân… Biết các cụ qua lời kể trầm trầm của ông ngoại khi mới học lớp ba trường làng và cứ mỗi lần như thế Tẩn ước muốn sau này sẽ vẽ một bức tranh cỡ lớn về các loài hoa đồng nội để tặng quê hương và tặng các danh nhân. Trong đó, có một đóa hoa riêng tặng các bà mẹ sinh ra các bậc danh nhân. Thế mà từ khi thành họa sĩ ít nhiều tiếng tăm ở đất Sài Gòn, Tẩn không vẽ được một bông hoa đồng nội nào ra hồn. Có bông đẹp lộng lẫy thì giống hoa hồng, nhiều bông vẽ xấu hơn bất kể hoa nào từng thấy, nên lòng ray rứt mãi…
Tẩn nhất quyết đóng cửa ở nhà vẽ. Tẩn nói với Ngân - bạn thân cũng là họa sĩ - sẽ không ra khỏi nhà, không gặp một ai nữa nếu không vẽ được bức tranh độc hoa đồng nội. Đêm qua Tẩn vẽ được bức độc hoa, rồi mở tung cửa nhà đón chào đất trời phơi phới vào xuân. Người đầu tiên thưởng thức bức độc hoa là Ngân khi cô mang cho Tẩn cà mèn phở, kèm theo tách cà phê.
- Tẩn ơi! Tẩn ơi! Ngân gọi và thấy hơi lạ vì mấy bữa trước có khi phải đập cửa thình thình Tẩn mới ú ớ ra mở cửa, thế mà sáng nay cửa ngõ mở toang như đêm hôm có trộm. Ngân lên thẳng tầng hai, ra sân thượng và ngẩn ngơ trước đóa hoa đồng nội đang nở rộ, Ngân bước tới định lấy tay đỡ… Tẩn hét lớn: “Đừng chạm vào, đấy là đóa hoa trong tâm tưởng, mình đã vẽ được rồi…”.
Sau đó, sân thượng nhà Tẩn trở thành nơi rất nhiều người đến thưởng lãm tranh. Ai cũng khen hoa rất đẹp nhưng có điều gì đó lòng bất an. Tẩn vẽ thêm một bông nữa, rồi thêm một bông nữa, một bông nữa… Cứ vẽ thêm như thế, không những bức tranh hoa ngày càng xấu hơn mà còn cảm thấy thêm bất an. Tẩn nằm rã rượi, chẳng nói, chẳng rằng.
Ngày tháng trôi qua, bức tranh ngàn hoa đồng nội cũ kỹ, người thưởng lãm thưa dần rồi chẳng còn ai đoái hoài. Nếu như ngày vẽ xong đóa độc hoa đồng nội Tẩn nổi tiếng chừng nào thì bức tranh vẽ thêm ngàn hoa lại nhận chìm hồn phách Tẩn chừng ấy. Sài Gòn không nói làm gì, bởi chốn phồn hoa nổi tiếng đấy rồi lại vô danh tiểu tốt đấy! Khốn nỗi, ở quê bông hoa đồng nội được Tẩn sinh nở trên bức tranh độc hoa ấy, bà con làng xóm lúc tỏ tường cớ sự lại tỏ ra khinh miệt. Có người còn đặt câu hát “Đất có trời, Gò Nổi có Tẩn người “hỏa si”.
Mỗi ngày thức dậy trong nỗi ám ảnh hoa đồng nội, Tẩn điện về cho bạn cũ ở quê gửi vào hàng ngàn bông hoa đồng nội khác, để mỗi ngày ngắm một chiếc rồi đặt thêm một tên mới như bông chuối nước trở thành hoa lửa, bông bìm bìm là hoa nhớ. Ngắm xong, đặt tên xong, vẽ, càng vẽ càng giống như “quỷ sa” không hơn không kém. Ngân gợi ý: “Chẳng lẽ suốt đời Tẩn mang nỗi buồn không vẽ được hoa đồng nội mãi hay sao?”. “Dễ đúng như vậy”. “Hoa cũng như người, ai bội bạc quên nghĩa quên tình, cả đời dù có làm gì, ở đâu, sống như chết!”.
“Hay là Ngân cùng về quê nội, quê ngoại của mình một lần, thăm lại nơi một thời tóc để chỏm, đi học trường làng, có những đứa bạn hiền như đất, chỉ biết rong chơi với cỏ hoa đồng nội. À, có một loại bông cỏ gà, tụi mình hễ bắt gặp được thì mừng vô kể, xúm nhau hái, sau đó cùng chơi trò chọi gà”. Tẩn kể một mạch, Ngân ngồi chon hỏn nghe chẳng hiểu gì, bởi quê Ngân ở miệt sông nước Nam Bộ nên làm gì có loại bông cỏ Tẩn nói đâu. Tẩn như hiểu ra, cười cười: “Không hiểu phải không, ví dụ này…”. Hai tay cầm hai cây cọ vẽ còn nhèm nhèm phẩm màu Tẩn giải thích rằng cây cỏ gà trổ trên đầu chồi non một chùm lá như thế này… Mỗi đứa một bông cỏ quất mạnh vào nhau, bông cỏ đứa nào đứt lìa cọng cỏ là thua. Ngân ậm ừ: “Mà bao giờ đi?”. “Đi ngay thôi!”.
Bây giờ trở lại Sài Gòn, Tẩn còn nhớ mãi lời tâm sự từ những người bạn cũ thân thiết sống ở quê, theo đó bức tranh ngàn hoa đồng nội của Tẩn nên vẽ thêm những chiếc lá vàng ở phần nền cuối của bức tranh. Không có sự sống nào không tàn lụi theo thời gian, song hồn của sự sống nếu được đặt đúng chỗ sẽ sống dậy và sống mãi…
Đứng trước bức tranh tay cầm cây cọ, tay bưng đĩa màu còn lại sền sệt, đăm chiêu suy nghĩ, hình như có ai đó nắm lấy tay Tẩn nâng lên… Tẩn vẽ những chiếc lá vàng. Bức tranh bỗng sáng rực rỡ. Hay tin Tẩn từ quê trở lại thành phố bạn bè tới thăm và ngạc nhiên trước bức tranh cũ bây giờ tươi tắn, hồi sinh. Bức tranh ấy có tên Chiếc lá.
HÒA VĂN
Thứ Tư, 1 tháng 11, 2023
Hòa Văn: 25 Truyện cực ngắn
1. GIÁ NHƯ...
NGƯỜI XỨ QUẢNG TRUYỀN TỤNG MỘT CHUYỆN.
RẰNG XƯA ĐẠI QUAN HỌ HOÀNG CẢ ĐỜI HẾT LÒNG VÌ NƯỚC VÌ DÂN, KHI TỔ QUỐC AN VUI THÌ LIÊM CHÍNH, NGUY NAN THÌ HY SINH ĐỂ LẠI TIẾNG THƠM MUÔN THUỞ.
Sinh thời bà mẹ(*) Đại quan một mực thương yêu chồng con, sớm hôm tần tảo hái dâu nuôi tằm, làm ruộng ngay tại quê nhà.
Vốn chất phát nhân hậu bà từng căn dặn con cái lúc nhỏ lo học hành, lớn lên có làm gì cũng phải giữ đạo nhà phép nước, sống giản dị. Khi nhậm chức quan bà căn dặn Đại quan phải liêm khiết, làm điều ích nước lợi dân. Đó là hiếu là thảo với mẹ với cha.
Một hôm Đại quan họ Hoàng gởi về kính tặng mẹ một tấm áo bằng lụa để tỏ lòng hiếu thảo.
Cầm áo vải óng mượt đẹp chưa từng thấy dù đây là sản phẩm có một phần công sức của người nông dân dãi dầu mưa nắng như bà góp phần làm ra nó, bà trầm ngâm suy nghĩ rồi lụi bụi xách dao bầu ra biền chặt một cây roi dâu cuộn tròn lại gói chung với áo lụa nhờ người mang đến đem trở về trả lại cho con.
Đại quan họ Hoàng nhận lại tấm áo trong đó có cái roi dâu hiểu ngay lời của mẹ gởi gắm...
Ngày nay, giá như...
Giá như!.
(*): Đây là người mẹ Gò Nổi- Điện Bàn, Quảng Nam thân mẫu của cụ Hòang Diệu.
2. VƠI
Ngày thường sống với đứa cháu nội lên mười, ba ngày tết nhà lão Vy có thêm vợ chồng hai đứa con trai, vợ chồng đứa con gái bởi vậy không khí gia đình vui hẳn lên.
Tự nhiên đang ngồi quây quần chuyện trò vui vẻ lão Vy buột miệng: “Bao giờ trở lại... “Tết xưa!””.
Con trai; con gái; dâu; rể lặng lẽ nhìn cha. Bảy đứa cháu ngoại; cháu nội ở xa về nhìn nhau... lặng im.
Đứa cháu nội lên mười thưa: “Con thấy trong tủ lạnh, rồi trên các tủ gỗ quanh nhà bếp nhà mình quá trời đồ ăn thức uống. Còn như nhà bà A gần bên con nghe nói hộ nghèo mà tết đến bà sắm lũ củ nào là thịt heo bánh tráng, kẹo mức mà ông?. Chẳng lẽ tết ngày xưa giàu hơn hở ông nội?”.
Nhìn ra sân... Nắng xuân trải sắc vàng rực rỡ trên từng bông mai, bông cúc đang nở rộ... Xuân về Tết tới đúng chu kỳ thiên nhiên, vật chất mỗi năm mỗi thêm lên nhưng cứ thấy thiếu thiếu điều gì...
Lão Vy uống thêm ngụm trà ngồi ngẫm nghĩ... "Nét đẹp ngày tết... vơi dần!".
3. ÔNG TRUNG TRUNG
Hồi nhỏ tới tết tôi ưng nhất là được lì xì. Được lì xì năm đồng, mười đồng, có khi là cây kẹo, cái bánh... cũng vui thôi chứ chẳng nghĩ nhiều ít!.
Giờ khi đã “thất thập cổ lai hy” tôi thấy trẻ con cũng ưng lì xì mà lì xì nhiều mới thích!.
Bởi vậy hôm đến thăm một ông bạn, nhà đang có cậu em út dẫn theo đứa con gái lên mười đang trò chuyện tết...
Đứa bé lên mười vừa hớn hở săm se các bao lì xì vừa nói rành rọt:
- Cái ni của ông lớn nề! Cái ni của ông nhỏ nề!
Thấy tôi không hiểu chị vợ ông bạn giải thích “Nó nói ông lớn là ông lì xì cho nó năm chục ngàn đồng, ông nhỏ là lì xì chỉ có năm ngàn đồng, còn lại là ông trung trung!”.
4. CỔ LỖ XỈ!
Chiều hai mươi chín tết tôi đến nhà sách Sơn Hải ở thị trấn V. tìm mua một cây bút lông loại ngày xa xưa các ông thầy đồ dùng viết chữ Nho.
Tiếp tôi là cô gái khoảng mười bảy; mười tám tuổi khá xinh cô đang học hành ở xa nay về ăn tết.
Tôi nói: “Bán cho ông cây bút viết chữ Nho”
Tỏ vẻ ngạc nhiên cô đáp: “Bi giờ làm chi có loại bút “Cổ lỗ xỉ” ấy!”
Tôi chưa kịp nói câu nào với cô bé thì chị chủ nhà sách bước nhanh tới và nói: “Dạ!. Dạ có!”.
Trả tiền xong tôi cảm ơn chủ nhà sách và suy nghĩ... “Cổ lỗ xỉ!”?.
5. “???” 1
Đám trẻ lên năm lên bảy xúm nhau lại giả bộ chơi trò “vợ chồng”.
Cu Lỳ đứng chống nạnh nói:
“Nhỏ Xíu! Làm gì có tiền?”
Thực ra Nhỏ Xíu đang cầm mấy cái lá mít.
Nhỏ Xíu lí nhí:
“Dạ thưa! Dạ thưa của anh Vuông cho ạ!”
Cu Lỳ:
“My không nghe xóm bảo Vuông là tay chuyên cắp vặt à!”
Nhỏ Xíu:
“Nghe! Có nghe nhưng ảnh hay cho kẹo con mà!”
Cu Lỳ cười te toét bảo:
“Ừ hỉ! Thằng ngó rứa mà biết “điều”
Tôi hỏi:
“Tại răng biết “điều”?”
Cu Lỳ:
“Còn hơn “ăn cắp” rồi cất kỹ!”.
“???”
6. “???” 2
Chơi trò “vợ chồng” chán đám trẻ chơi trò “thầy trò”.
Cu Lỳ đóng vai người thầy mặt đăm chiêu hỏi:
“Mấy trò về sau ưng làm việc chi nhất?”
Đám trẻ ngồi lặng im.
Nhỏ Xíu thưa:
“Không làm mà có nhiều tiền!”
“???”.
7. MANH MÚN
NGƯỜI NÔNG DÂN VỚI THỬA RUỘNG NGƯỜI CÔNG NHÂN VỚI XÍ NGHIỆP TẤT CẢ KHÔNG GÌ KHÁC NGOÀI VIỆC PHẢI LÀM RA CÁI ĂN CÁI ĐỂ.
Từ hàng ngàn năm qua dù so với trước có nhiều thay đổi cảnh cơ hàn đói cơm lạt mắm không còn đại trà... nói thế không phải đã tốt đẹp cả!.
Cái không ấy là manh mún. Chuyện đèn ai nấy rạng, ưng tranh phần hơn về mình, chuyện... , chuyện... nhiều khi vì tránh đi điều mắc lòng mắc bồi mà ít ai nói thiệt.
Manh mún thửa ruộng, cái máy móc... có thể là thường tình, manh mún trong suy nghĩ hành động thật đáng ngại!.
Manh mún...
8. DỎM
DỎM TỨC LÀ KHÔNG THIỆT. BIẾT THẾ NHƯNG CỨ THẮC MẮC!. Hồi còn nhỏ cu Su thường chau mặt khi ai nói nó dỏm lớn lên đi làm lúc đầu anh Su cũng khó chịu khi ai đó nói anh làm điều gì đó không thiệt... Bây giờ khác rồi hình như anh thích nghi với nhiều "chuyện thường ngày ở huyện"!.
Mẹ anh Su tuổi trên chín mươi tuy có lọm khọm trong đi lại song minh mẫn lắm.
Bà hỏi:
"Răng càng ngày con sống khác xưa nhiều?"
Anh Su:
"Dạ! Mẹ ở nhà nên không rõ thôi con còn "tử tế" chán!"
Ý anh giờ đi đâu làm gì cũng gặp "dỏm": Người có người dỏm đồ vật có đồ vật dỏm không biết đâu mà lần... đến như sẽ có mẹ dỏm tức là các bà mẹ làm một công việc hết sức "đạo đức, nhân văn, thiêng chức" đẻ hộ!.
Câu thơ "... như là có một mẹ thôi" từng xao xuyến bao người con còn hay đi vào dĩ vãng!.
9. ĐÁM MA KIẾN
MỘT ĐÀN KIẾN DÀI NGOẰN ĐI THEO SAU MỘT ĐÁM MA CON KIẾN.
Không rõ lý do chết chỉ biết cả nhà kiến ai nấy cũng tỏ vẻ thành kính và thương tiếc lắm!.
Bốn chú kiến kẻ trước người sau khiêng kiến chết đi chầm chậm.
Cu Cơm nói:
"Mẹ thấy hông kiến cũng biết thương kiến!"
Mẹ cu Cơm:
"Sao con nghĩ vậy?"
"Dạ! Dạ tại con thấy đang đưa kiến chết đi chôn nhiều con kiến chụm đầu lại y hồi ngoại chết mẹ và dì Út ôm nhau khóc mẹ không nhớ hãy!"
Không để mẹ trả lời cu Cơm nói tiếp:
"Mẹ há đến con kiến còn biết thương nhau mà sao con người lại ganh ghét nhau giết chết nhau...
A! con nhớ rồi vì tiền phải không mẹ?"
Mẹ:
"Tại sao con lại nghĩ vậy?"
"Dạ con nghe truyền hình hôm qua nói vì muốn có mấy trăm triệu ai đó bắt và dọa giết hai người...!".
Mẹ!!!.
10. CÁI MÂM
CỨ NGỒI VÔ ĂN NHÀ ÔNG M KHÔNG CHUYỆN NÀY THÌ CHUYỆN NỌ NÊN MƯỜI BỮA NHƯ CHỤC không khí như đang ở chảo lửa nó nóng hừng hực. Cả năm người vừa vợ chồng con cái và thêm đứa cháu nội lên chín đều buồn phần ai nấy ăn...
Phải như nhà bà Bay bên cạnh thiếu trước hụt sau như thế cho cam đàng này nhà ông M qua thời ăn tro mò trấu nay nhà cửa khang trang, con cái có công ăn việc làm hẳn hoi lại toàn việc hái ra tiền đống tiền khối...
Cha ăn mặn con khát nước đời hay soi mói thế chưa kiểm chứng nhưng hồi ông M còn chức quyền nay chức quyền kế thừa cho con thì việc ăn nên làm ra là chuyện khỏi phải bàn chỉ có tại sao dư dã thế giàu có thế... bữa ăn nào cũng cá thịt thừa mứa thế mà cơm không lành canh không ngọt thì có trời mới tỏ!.
Ông M:
"Hắt quách cái mâm!".
Ông nói trong hơi thở hổn hển.
Đứa con trai:
"Đâu phải tại nó mà hắt!".
Cô con dâu: "Chẳng lẽ tại con cá!".
Bà M im thin thít đỏ hoe đôi mắt vốn đã lão hoá vừa đục thuỷ tinh thể.
Đứa cháu nội lên chín sè sẹ bỏ chén đũa xuống mâm rồi thưa:
"Theo con tại những người ngồi quanh mâm cơm ạ!".
Ra đường nghe bà già về nhà nghe con nít!.
11. HẾT BUỒN!
ĐỌC MỘT TRUYỆN CỰC NGẮN TRÊN FACBOOOK CÓ TÊN "BUỒN... ẢO" MÌNH LẠI BUỒN THẬT.
Té ra trên mạng hàng tỉ người yêu thương nhau như thế có không ít người chỉ "yêu" chót lưỡi đầu môi...
Ông Mark Zuckerberg một hôm đọc thấy những stt của họ bèn com...
"Nếu hay tin ông chủ của Fb lụn bại bạn có ý tưởng gì giúp ổng vực dậy để trang "yêu thuơng có cánh" sống không?"
„Hi hi... Xin thành thật chia buồn..."
Mark Zuckerberg:
"TKS bạn!. Tài khoản của bạn đã khóa. Lý do fb không bao giờ lụn bại vì luôn có hàng tỉ người yêu thương nhau thiệt tình!".
Mình hết buồn.
12 . HÃY TỰ CỨU!
MỘT HÔM ĐỘT NHIÊN MẠNG FACEBOOK Ở NUỚC X TẮT NGẤM KHÔNG PHẢI DO SỰ CỐ...
Người người chạy hết ra khỏi nhà (nhà bank, nhà ở, nhà làm việc...), tất cả xe cộ dừng lại kéo còi...
Có ông lão khoảng trên tám mươi tuổi chạy như điên trên đường giơ hai tay giơ lên caomiệng kêu "Trời!".
Trời phán:
"Các người không nhớ ah!: Hãy tự cứu!".
(26 tháng 012015 – Truyện cực ngắn Hãy tự cứu viết ngẫu nhiên trước một ngày, 27 tháng 012015 Facebook bị sập toàn mạng, 1 giờ sau mới truy cập lại được)
HÒA VĂN
Vẫn chưa đầy đủ!
Tôi và chồng cả hai là...
Mâm cơm của tôi ngày hai bữa ít nhất phải có ba món, thứ nhất món canh: canh cá chua hoặc ngọt hoặc canh xương hầm... khoai tây, cà rốt..., khoản giữa là rau sống và cuối cùng là món cá hoặc thịt hoặc các loại rau củ xào, trộn... dĩ nhiên bữa tối phải có bia hoặc rượu ngon. Vậy mà “ba mấy đứa” luôn nói như thế là vẫn chưa đầy đủ!. “Nếu đúng bài khoa học em phải cân đong thật chính xác số lượng thực phẩm dùng mỗi bữa để đảm bảo hàm lượng calo cho cả bốn người.”. (Ý ông có hai đứa con).
Tôi thì liệu cơm gắp mắm, thời buổi nầy lo được từng bữa ăn cho gia đình như vậy đâu dễ?.
Một hôm sang bà nhà kế bên (Thực ra cô ta mới khoảng trên bốn mấy tuổi mà già khọm nên ai cũng gọi “bà”) gặp bữa ăn tối tôi thấy hai vợ chồng ba đứa con ngồi quây quanh mâm cơm chẳng có gì ngoài rau và mắm dở (*).
Cả nhà nhìn tôi ái ngại. Bà nói: “Bạn tui làm ruộng kiểu ni (**) cơm cũng sẽ thiếu chứ đừng nói cá với thịt!.”.
Tôi..../.
-----
- (*): loại hai.
- (**): Ý nói mất mùa và giá cả phân bón – nông sản bất hợp lý.
Nhỏ và lớn
Cu Tỉn hồi học mẫu giáo rồi lên những năm đầu bậc Tiểu học ngoan lắm.
Công đầu phải nói là thầy cô giáo thứ đến có sự gia công bày vẽ của ông bà cha mẹ…
Đi học hay làm bất cứ chuyện gì cu cậu đều nhất nhất thưa và trình một cách trịnh trọng đúng là được ”học lễ” khá bài bản. Ông nội thường khoe với mọi người “Thằng cháu nội đích tôn tôi đó!”. Mỗi lần như vậy người nghe gật đầu đồng ý và hiểu ý ông “Cháu nội tôi giỏi và ngoan!”. Riêng ông không nói ra nhưng ai cũng biết ông vui lắm!.
Cũng cu Tỉn. Khi lớn lên học những năm cuối bậc Tiểu học rồi bây giờ lớn tồng ngồng sắp sửa đi thi Đại học lại khác một trời một vực…
Hay nói rõ nếu khi xưa ngoan và là niềm vui niềm hãnh diện của cả nhà chừng nào nay buồn bực chừng nấy.
Cu cậu trở tính trở nết ai cũng ta thán!.
Ông nội giờ không dám nhắc đến tên cháu nội trước đám đông, với bạn bè…./.
Nhỏ và lớn thật là…
Chiếc tủ lạnh và chiếc xe!
Anh phóng viên người Nhật khi được tôi “phỏng vấn”: “Xin anh nhận xét sự khác nhau giữa cách bày biện ở trong hai ngôi nhà Nhật và Việt?”.
Trầm ngâm chặp lâu anh phóng viên nói thiệt tình: “Khác lắm lắm... Ở Nhật nơi đẹp nhất trong nhà được làm nơi để tủ sách hoặc kệ sách kế đến là tủ sắp đặt bình tách, chén uống trà, rồi mới đến các thiết bị phục vụ nhu cầu khác...
Còn ở Việt tôi đi nhiều hầu như đa phần ít thấy tủ hoặc kệ sách, thay vào đó người chỉ có điều kiện chút xíu là sắm xe cộ - xe máy hoặc xe hơi (Chỉ sự đi lại) tiếp sau là tủ lạnh (Chỉ sự ăn uống).
Không biết mức độ trúng trật của nhận xét như vậy được bao nhiêu phần trăm trong phạm vi cả nước nhưng điều nầy là có thật ở nơi tôi đang ở.
Vào một quán net 100% người có mặt đang dán mắt vào game hoặc đọc báo mạng lâm ly tình cảm “trăng” với “sao”... Thi thoảng mới có người đọc văn đọc thơ...
Ơi chiếc tủ lạnh và chiếc xe!./.
Mẹ và con Meo
Thuở hồng hoang Meo là “người” hoạt động “nghệ thuật”. Nói cho có văn vẻ to tát thế chứ “chị ta” chỉ có nhiệm vụ ghi ghi chép chép đôi điều mắt thấy tai nghe nơi “cộng đồng”.
Đời lúc nào cũng thế!. “Chín người mười ý”, “Không ai chịu ai” bởi vậy dẫu “truyện” “chị ta” viết đúng 100% vẫn có “người” chê bai do vậy “Nhiều thương thì lắm ghét”.
Meo ăn phải “bả độc” suýt bỏ mạng may nhờ có ông thi sĩ họ Đất ra tay cứu. Thoát cái chết trong gang tấc nhưng di chứng “giờ không nói được” chỉ meo meo...
Suốt mấy ngày đêm “mẹ Meo” bị nạn “cu Meo con” quấn qua quấn quýt bên mẹ hết chải chuốt vuốt ve lại lấy cái mũi khịt khịt vào miệng mẹ tuồng như nó muốn hà hơi tiếp “nguồn sinh lực” để mong mẹ chóng bình phục!.
Tấm ảnh chụp khi Meo thoát nạn cho thấy “người” mừng nhất là “cu Meo con” và thi sĩ họ Đất!.
Ôi tình mẹ và con Meo thật “vĩ đại”!./.
Thiệt và dối
MMột giáo sư tự nói rõ mọi việc làm không đúng của mình từ khi cắp vở; cắp cặp đi học cho đến bây giờ ở tuổi “Xưa nay hiếm”.
Tin về giáo sư tất cả các báo, mạng, hảng thông tấn đều đưa tin, nhiều báo còn viết bài tường thuật cặn kẽ không thiếu một chi tiết nào... Ví như mấy tuổi cụ đi học, đi học giỏi hay dở, thi mấy kỳ môn nào tự làm bài môn nào coppy, môn nào tự làm nhờ “phao”... Học hàm tiến sĩ do ai làm, học vị giáo sư do đâu mà có...
Thế mà không ai tin họ kháo nhau: “Lại là tự tạo scandan để thêm nổi tiếng!”. Khó thật thời buổi khó thật!.
Tờ báo “Tiếng Chuông Rè” tờ không ai đọc hết nhưng sống được nhờ quý nhân tài trợ cử phóng viên đặc biệt (đặc biệt vì phóng viên là Tổng biên tập) đến tư dinh giáo sư phỏng vấn và đăng trên trang nhất với tít bài: “Sự thật về những lời nói dối của giáo sư...”.
Đột nhiên tờ báo nổi danh như cồn.
Sau đây là toàn văn bài báo: “Xin bạn đọc xem bài trong số báo in ngày mai”.
Xe gạo và xe sách
Đất nước sau chiến tranh kéo dài, kinh tế kiệt quệ.
Thành phố mà không có gì thì nông thôn hơn chi... Hai năm dài đằng đẵng chịu khó chịu khổ chờ quyết sách của vua ban.
Rất may triều đình và các quan đại thần một lòng nghiên cứu tìm tòi kế sách in vào một quyển gọi là “Cẩm nang làm giàu” xong mở một đợt khuyến dụ quan dân cả nước nên nhận sách vua viết về đọc mà theo đó mần ăn để “Dân giàu nước mạnh”.
Đến giờ G nhà vua cho chở xe gạo và một xe sách đến tất cả khắp nơi trong nước và truyền chỉ lệnh của vua: “Dân chúng ai muốn no ngay thì nhận bao gạo một tạ, ai muốn mai kia không những no mà còn giàu có khá giả thì nhận sách “Cẩm nang làm giàu”.
Cả nước quan dân đều nhận sách, toàn bộ số lượng gạo chở đi được chở về nhập kho.
Mới ba mươi năm sau đất nước trở nên “con rồng - con hổ” trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật...
Khâm phục thay! Khâm phục thay!./.
Chữ to!
Nu Na liến từ mới lên ba lên bốn kia. Giờ đã là cô bé học lớp mẫu giáo lớn rồi nên càng liến lắm. Nhìn khuôn mặt bầu bỉnh và sáng sủa ai cũngthích bẹo.
Ở lớp Nu Na làm trưởng lớp mà chưa bao giờ cô bé tỏ vẻ ta là trưởng lớp cả. Cái gì cũng nói cũng thưa nhẹ nhàng với cô và cũng rất nhẹ nhàng với các bạn.
Một hôm Nu Na không học thuộc lời bài hát mới. Không thuộc không phải lười biếng mà do câu nói của mẹ hồi sáng sớm khi chở cô bé đến trường. “Con phải học nghe nếu không các bạn giành hết chữ to!”.
Cả buổi sáng Nu Na suy nghĩ miết, mình có giành cái gì của bạn đâu?.
Con gấu đẹp nhất để cu Biu cõng. Chiếc xe cần cẩu mình thích lắm mà bé Hà Hà nũng nịu đòi mình cũng nhường... Mình... mình... Thế mà sao các bạn xấu thế!.
Từ đó ở lớp học Nu Na cái gì cũng giành phần mình. Dần dà chẳng còn bạn nào muốn chơi chung.
Biết sự việc, mẹ khóc.
Nu Na dỗ mẹ: “Mẹ đừng lo nữa các bạn giờ chỉ có chữ nhỏ thôi. Chữ to là của con hết mà!”./.
Thế mà...
Hai đứa trẻ lên năm cùng chơi với nhau.
Đứa con gái nói:
“Bữa sau mình thích làm bà ngoại hơn!”.
Đứa con trai tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi: “Tại sao?”.
Đứa con gái không một chút suy nghĩ trả lời ngay: “Vì bà ngoại là mẹ của con gái!”. Nói xong đứa con gái giải thích tiếp: “Như bà nội mình đó, bà thương mẹ mình hơn mẹ cu Ít”.
Đứa con trai thắc mắc: “Tại sao?”. Chẳng cần suy nghĩ gì lâu đứa con gái nói ngay: “Bởi với cu Ít kêu bà ngoại mình bằng bà nội!!!”.
Bà ngoại - bà nội hai bà là một sao lại thương con gái hơn con dâu?.
Câu hỏi tưởng dễ trả lời lại hóa ra quá khó.
Nếu không khó tại sao cùng làm “Bà ngoại và bà nội” lại không dành tình thương yêu như nhau cho cả “con gái” và “con dâu” mình.
Xưa nay ai cũng biết “Con gái mình là dâu người ta và ngược lại!.”.
Thế mà... ./.
Nải chuối
Thiệt tình bà Hai thương cháu lắm!. Không thương mà mỗi lần ba hoặc má của cu Sun la rầy cu cậu khi làm điều trái quấy hay làm nũng thì bà thường bênh: “Mấy đứa hồi nhỏ cũng vậy thôi!. Cháu lại đây với bà!.”.
Hôm rằm vừa rồi bà rấm buồng chuối cau thật đẹp đi lễ chùa. Cu Sun nấn ná mãi đòi bà nội cho ăn chuối. Bà cắt buồng chuối ra từng nải cẩn thận sắp xếp vô giỏ nhựa xong đưa cho cu Sun một nải chót bảo cu cậu vừa ăn vừa chơi ngó nhà mẹ đi chợ sớm về giờ.
Cu Sun ngắm đi ngắm lại nải chuối chót rồi nói:
“Con ưng nải trong giỏ kia kia...”.
Bà mần thinh đứng dậy xách giỏ chuối đi...
Tới chùa sư Doãn Thính thấy bà Hai khệ nệ mang xách giỏ chuối nặng nề như vậy nói: “Phật tử cao tuổi rồi không nên cúng kiếng nhiều lễ vật như thế!”.
Rồi hỏi: “Cụ bà để ở nhà cho cháu được bao nhiêu nải?. Có nải nào tốt không?”.
Bà Hai lúng ta lúng túng.
Sư Doãn Thính: “Kính Phật và thương con thương cháu là hai việc cần làm song song. Nếu Phật tử nặng bên nhẹ bên là điều cần sửa ngay. Đi tới chùa cốt để tu thân sửa tánh chứ không phải để cầu để xin điều gì nơi Phật và nơi chùa đâu!”.
Nghe lời sư giảng giải, bà Hai hiểu ra và càng nghĩ càng thương cu Sun./.
Từ rày đỡ lo...
Nghe thiên hạ bàn ra tán vào như vậy.
Mà chắc đúng như vậy bởi hồi bà Chum còn sống, vợ chồng Hai Nỷ và mấy đứa cháu nội cũng chẳng thiết tha tới hoàn cảnh sống của bà... Trên tám mươi tuổi rồi mà cái gì cũng riêng với tư.
Nơi bà Chum trú tránh nắng mưa là túp lều xây tạm ba bức tường gạch thâm thấp lợp tôn nằm sát vách ngôi nhà bề thế của vợ chồng con trai độc tôn Hai Nỷ. Như hộ nông dân thực thụ bà có riêng đám ruộng hơn một sào, việc gieo cấy thu hoạch cũng tự bà làm tất dù sức mòn lực kiệt, năm khi mười hoạ gặp bữa ốm nằm liệt giường con cháu mới trợ giúp, còn khoảng ăn uống hằng ngày thì rõ rồi bà phải tự nấu mới có ăn...
Khổ nhất lúc trái gió trở trời... trông bà Chum càng tội nghiệp... người ốm yếu nói quá lỡ gặp gió cả có thể bay theo gió như chơi...
Nhiều người thấy vậy nhỏ to góp ý. Nhưng nhằm nhò gì, có lần Hai Nỷ trả lời thẳng đuột “Bộ tôi sướng lắm chắc!” nên lâu rồi thành quen kệ bà Chum sống ra sao thì ra...
Đến lúc bà Chum nhắm mắt xuôi tay, vợ chồng Hai Nỷ lo tang chay rầm rộ. Trại rạp dựng lên trang hoàng chu đáo... Tiếng kinh câu kệ và nhạc đám ma ò... e... í, e ra rả cả ba ngày trên loa.
Ai nấy đến thăm ngỏ lời chia buồn cũng giật thót mình khi nghe vợ chồng Hai Nỷ gục gục đầu tỏ vẻ chân thành đội ơn và nói lí nhí: “Từ rày đỡ lo...”
Bà Chum đi... từ rày đỡ lo... thật!./.
23. Tối lửa tắt đèn...
"Bán bà con xa mua láng giềng gần”.
Câu thành ngữ quen thuộc ai cũng biết. Đó là lúc bình thường.
Còn khi con gà nhà bên tự nhiên chui qua hàng rào gai tre chạy sang nhà Y bui gần hết nửa rò cải cay đang lên mơn mởn là chuyện khác!.
Y đi làm ruộng về thấy, tiếc của giận run người.
Tối lại Y làm thinh mua thuốc bả độc trộn một nửa lon gạo đem rải qua vườn nhà bên.
Trưa hôm sau đi làm về anh nhà bên thấy đàn gà choai có lớn có chết toi... cũng tiếc đứt từng đoạn ruột. Bầy gà trên mười con nhà bên định bụng giáp tết bán lấy tiền mua mấy bộ đồ mới cho hai đứa con tuổi lên chín lên mười mặc ăn tết.
Chị vợ nổi tam bành la làng la xóm rân trời đất!... Anh chồng can “Thôi coi như gà dịch bệnh...”.
Hai mươi tám Tết Y nấu bánh tét. Vợ chồng canh lửa củi quá nửa đêm mệt quá ngủ quên. Lửa bò ra liếm phên tre bắc sang đống cây củi bắp cháy bùng lên lửa ngọn thiêu rụi nhà bếp.
Bà con hàng xóm tất cả xúm nhau cứu hoả!.
Người ta thấy vợ chồng anh nhà bên là những người tích cực nhất trong việc chữa cháy nhà anh Y hôm ấy.
Và suýt xíu nửa anh nhà bên bị thương do cây cột nhà dưới ngả đổ...
Cứu được căn nhà trên của Y không bị cháy ai nấy cũng vui mừng. Nồi bánh tét và mấy chum lúa cái cháy ra tro cái cháy sém... khét lẹt./.
24. Phóng sanh
Lạ! Con chim sẻ gật gù trong lồng.
Nó lại được thả ra, thả ra là nói theo chữ ta còn chữ nôm chữ của người làm thiện lành là phóng... sanh.
"Không biết sau 4 lượt bắt rồi thả này mình có thoát nạn bẫy chim không?"
Con chim sẻ đang ở trong lồng nghĩ nghĩ...
Mô Phật!./.
25. Mẹ ơi!
Mẹ vĩ đại Thu Bồn đôn hậu mà giờ tác quái!.
Mẹ không còn thiên lương?
Không thể và không bao giờ có điều ấy.
- Mẹ sinh nở và dưỡng dục con chứ!
- Dạ con xin mẹ thứ lỗi!
- Không lỗi phải. Điều mẹ muốn là các con hãy đùm bọc nhau như ngày nào...
- Dạ!.
Sau giấc mơ ngủ là nghe tin một bà mẹ trong khi đi sinh đã lâm nạn. Cả hai mẹ con không thoát khỏi lưỡi hái tử thần trong dòng nước bạc!.
Mẹ ơi!./.
H.V
12/10/20
26. TỪ TÂM
1.
Tới chừ làng Cẩm Đồng còn nhớ chuyện:
Hồi năm 1975 khi chiến tranh vừa kết thúc ai ai cũng thi nhau khai hoang vỡ hoá để có đất sản xuất. Cả biền bãi mé sông Thu Bồn ở đây mới có lưng nửa tháng đã sạch cỏ tranh; lau bói. Thế mà trong thửa đất hơn hai sào của ông Liêu lại có một chòm lau bói đứng chơ vơ...
Ông An cuốc đất kế bên hỏi:
“Chứ ông để mần chi?”.
Vuốt những giọt mồ hôi trên tráng xong ông Liêu nói:
“Bên trong nớ có một tổ chim!”.
Một thời gian sau từ nơi chòm lau bói có ba chú chim non chập chững tập chuyền!.
2.
Xa quê Gò Nổi vô Sài Gòn từ những năm 60 nay ở tuổi “cổ lai hy” ông Trí vẫn không quên các chú chim chóc một thời trai trẻ từng thấy từng biết và ham thích...
Bởi vậy khi anh con trai của ông xây căn nhà mới ông đề nghị:
“Con cho ba tầng thượng để nuôi chim...”.
Sau hơn hai năm ông Trí mua hàng tạ thóc, đậu, mè, ngày nào cũng mang lên sân thượng tỉ mẩn rải... đến nay có hàng trăm... con chim đủ các loại không rõ từ đâu thường xuyên bay đến vui đùa với ông Trí như bạn thân trên sân thượng!.
Quả là từ tâm./.
HÒA VĂN
Thứ Tư, 27 tháng 9, 2023
Truyện ngắn Hòa Văn: NỖI LÒNG NGƯỜI MẸ
Nhân ngồi bó gối, kiểu ngồi giống hệch bà Tư Đan - mẹ của Nhân. Kiểu ngồi chỉ có trong lúc buồn buồn! Ở tuổi sáu mươi bà Tư Đan đẹp lão như thế thì nhất định hồi con gái đẹp phải biết! Thế mà không rõ vì lý do làm sao cô “con gái đẹp phải biết!” lại không có chồng chỉ có đứa con nuôi.
Khi nhỏ có lần hóng hớt chuyện con nuôi con đẻ... ở hàng xóm Nhân chạy u về nhà sà vào lòng mẹ tỉ tê:
“Mẹ à! Con hỏi mẹ đừng buồn nghe! Cô Tâm, cô Hai nói...”
Bà Tư Đan không để Nhân nói hết câu:
“Con là con nuôi của mẹ chứ gì?”.
“?...”.
“Con ạ! Bây giờ con cứ lo học hành đi... về sau mẹ sẽ...”.
!
“Dạ!...”.
Nhân lí nhí “Dạ!...” mắt nhìn chăm chắm vào mắt mẹ. Đôi mắt từng nhiều lần Nhân lấy một tấm ảnh của mẹ - một tấm ảnh của Nhân ra so đo, càng so đo càng thấy hai đôi mắt giống nhau như đúc. Cặp lông mày sắc sảo, còn tròng trắng màu thau sáng long lanh và sâu thẳm tựa như hồ thu. Nhỏ bạn học cùng lớp với Nhân thường hay chọc quê “Con trai mà con mắt giống mẹ!”. Thế mà tại sao mẹ lại bảo mẹ là mẹ nuôi? Nhân nghĩ ngợi ở đời chuyện con nuôi thông thường họ hay giấu chớ sao mẹ mình lại nói với mình một cách thản nhiên như vậy! Rồi sau đó ngồi bó gối buồn buồn.
*
Nhân thưa với mẹ:
“Mẹ khổ cực với con nhiều quá rồi giờ mẹ đừng lo nghĩ điều gì nữa... Sang năm vợ con sinh, mẹ có cháu bế bồng rồi...”.
Thực tâm khi bà Tư Đan tuổi ngày càng xế chiều Nhân muốn hỏi cho rõ “chuyện của Nhân” nhưng công việc làm ăn ở công ty Tin học do vợ chồng Nhân mới gầy dựng quá bận bịu nên cứ lần lữa mãi. Với lại bà Tư Đan bao giờ cũng một mực hết lòng yêu thương con cháu nên Nhân chẳng nỡ nào làm mẹ buồn...
Đoạn nầy Nhân kể trong nước mắt... “Luật sinh tử của tạo hóa thật khắc nghiệt!”. Hồi đời sống kinh tế vất vả khó khăn thì mẹ con đùm bọc nhau sống đầm ấm, giờ Nhân trưởng thành ăn nên làm ra có gia đình vợ con hạnh phúc thì bà Tư Đan lâm bệnh K. ở giai đoạn đoạn cuối. Mà đã K. rồi dẫu có tiền muôn bạc vạn, dẫu có tiến bộ khoa học hiện đại vẫn đành thua cuộc.
Ai cũng giấu giếm nhưng hình như linh tính bà Tư Đan biết chuyện chẳng lành. Nhiều hôm chỉ có một mình Nhân ở nhà, bà muốn nói điều gì ấy nhưng lại thôi.
Nhân ngồi bó gối thấy mẹ đang cố gắng hết sức để nâng bàn tay gầy guộc lên như muốn vẫy gọi Nhân mà không làm được.
Nhân thấy vậy vùng dậy bước nhanh tới bên gường, hỏi:
“Mẹ mệt quá? Con lấy thuốc giảm đau cho mẹ uống nghe!”.
Bà Tư Đan làm thinh mắt đờ đẫn nhìn ra phía cửa sổ như mong ngóng ai...
“Mẹ! Mẹ muốn nói điều gì với con?”.
Bà Tư Đan vẫn im lặng, đôi khoé mắt ngân ngấn nước mắt.
Mới nửa chiều bên ngoài trời sẫm tối. Cơn giông ập tới mưa xối mưa xả, Nhân đi đóng cửa sổ lại cho kín gió, bật sáng đèn các phòng trong nhà xong quay lại thấy bà Tư Đan vật vã ôm ngực người co rúm...
Bà Tư Đan từ biệt cõi đời.
Nhân đau đớn vô cùng!
*
Về già ông Hành kể ngọn ngành đầu đuôi chuyện tình giữa ông và cô Tư Đan cho cô Vân - con gái của ông nghe – ông Hành bày tỏ sự ân hận và mong mỏi tìm đứa con với cô Tư Đan ngày xưa...
Trước năm hòa bình bảy lăm...
Cô Tư Đan yêu anh Hành rồi có thai nghén nhưng “Với ai chứ không phải với anh Hành”. Đó là lời khẳng định như đinh đóng cột của ông Miêng.
“Liệu mà “tּự xּử!”.
Ông Miêng cha của Hành nói như lệnh với cô Tư Đan là phải bỏ cái bào thai!
Cô Tư Đan chẳng biết làm gì, ngồi cúi đầu thin thít.
Ông Miêng nói như quát:
“Thằng Hành con tôi mà lấy cô hãy! Không! Không thể nào có cái điều ấy xảy ra ở nhà này!”.
Cái thể giàu - nghèo giữa hai nhà là hố ngăn cách theo ông Miêng khó san lấp... dẫn tới xử sự quá cố chấp!
Hành đau khổ dữ lắm mà chẳng nói được câu nào. Tư Đan khóc hết nước mắt. Cô tự trách mình nông nỗi, nhẹ dạ, cả tin. Nói gì nghe cũng phải.
Cô Tư Đan lặng lẽ làm theo tiếng gọi của trái tim người mẹ giữ gìn bào thai rồi lặng lẽ bỏ xứ vào Nam sinh sống.
*
Sau nhiều năm cất công tìm người anh ruột, Vân đã gặp Nhân nhưng một điều bán tín bán nghi lại xảy ra.
Nhân viết thư gởi Vân:
“Nếu những tình tiết cô Vân kể là đúng thì vì nguyên cớ gì suốt cả đời mẹ sống với tôi - đứa con trai duy nhất của mẹ mà mẹ lại bảo là tôi con nuôi?”.
Hòa Văn
2/3/2013
Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2023
Hòa Văn: TÌNH TRÊN FACEBOOK
Truyện ngắn
Facebook (Fb) bây giờ phổ cập rất nhiều người đủ mọi lứa tuổi nghề nghiệp chức phận tham gia. Hồi xưa. Nói hồi xưa cho oai chứ chỉ dăm năm trước fb hàng cấm kỵ. Với họ trang này y nọc độc không nên chạm vô sợ lây nhiễm thói hư tật xấu hay chi ít cũng thiệt hại cái gì đó không vật chất thì tinh thần!. Ấy vậy mà...
Phương viết stt rồi loay hoay chọn ảnh để up. Buồn cười cho cô biết fb qua tivi, cái này nói cho rõ hình như tivi dạo này mười chương trình cả chục đều có fb kèm theo. Người dẫn chương trình lúc nào cũng nói phây béc cũng giới thiệu thật kỹ ví như www facbook.com/... nickneam ... Phương lúc đầu không hiểu phải nhờ cô bé con chị Ba kêu Phương dì ruột chỉ từng đường đi nước bước.
"Không bằng sắp nhỏ lanh tay lẹ mắt Phương lóng ngóng đủ thứ. Rồi học và làm miết được thôi."
Phương nghĩ bụng.
Có chậm chút Phương cũng đã up được tấm ảnh. Tấm ảnh chụp trên điện thoại. Mà nay điện thoại nào cũng có chức năng quay vidio và chụp ảnh miễn nó là loại đời mới có an hay win... Lại có cả công nghệ chỉnh sửa giúp ảnh đẹp hơn cả mấy lần so với khi mới chụp. Điều này Phương mới tập tò làm mà hiệu quả thật. Phương ngắm đi ngắm lại bức ảnh và lại nghĩ:
"Đẹp quá ta!"
Đẹp thiệt. Cô gái ba mươi chưa chồng có làn da mật ong mũi mắt trông được. Mấy tấm ảnh trước tự sướng coi không bằng tấm này do Huyên chụp giùm. Nói chụp giùm là nói vậy thôi chớ Huyên năn nỉ chứ bộ. Huyên anh bạn mới quen do bà mối phây béc dẫn dắt. Chuyện kể sau giờ nói tấm ảnh. Phố cổ với Phương chẳng có chỗ nào còn lạ lẫm vì là nơi chôn nhau cắt rốn mà!. Thế nhưng lên fb phố cổ đẹp lạ. Nhứt là hôm đầu tiên Huyên Phương gặp nhau bên bờ sông Hoài lộng gió rồi đi bộ lòng vòng... Tấm ảnh chụp ở cầu Chùa tuyệt đẹp. Phương nói mà như hét lên khi Huyên chụp và đưa cho Phương xem. Nhiều lần cũng tại đây Phương cũng chụp mà ảnh không như ý.
Huyên nói:
"Nhờ anh đó!"
"Nhờ cái vẻ quá đàn ông của anh!"
Phương nguýt mắt "yêu" thật dài và trả lời.
Huyên bốn mươi hai. Cái tuổi đúng ra có gia thất rồi mà không nhắc chuyện buồn khi đang vui như thế này. Trên fb Huyên và Phương kết bạn bình thường giống hàng trăm hàng ngàn fb có điều cứ mỗi lần Huyên hoặc Phương chia sẻ stt với nhau hay là trong com mỗi ngày một xít lại gần nhau. Ông bà xưa hay nói lời có cánh là vậy!.
Không rõ sự lay động con tim của những lá thư tình nén nót viết bằng tay vào những năm xưa xửa ấy như thế nào chứ ngày nay độ hot của thư từ nhất là thư tình đã là đồ cổ. Hầu như tình yêu đến không dông dài mà gọn ghẽ trong câu trong chữ. Fb nơi giao lưu chia sẻ bao tâm tình... Anh chủ trang mạng Fb Mark Zuckerberg là người trẻ nên biết ý thường cài đặt những người có cùng sở thích khi kết bạn với nhau xong thường xuyên gặp nhau. Đây là điều thú vị!.
Vậy nên trên fb có hiện tượng ví dụ như hôm nay đang tràn ngập hoa và lời có cánh cho ngày... còn cách đây gần một tháng thì cả fb rộn rã yêu mến thiết tha ngày... và chắc đến ngày x, y, z... cũng vậy. Có người nói vui mà thiệt hai vợ chồng nhà nọ gặp nhau ở nhà không hé răng chỉ gật và lắc đầu nhiều hơn chút là ra dấu bằng tay hệt câm điếc thế mà vô fb họ trao đổi tỏ rõ bao lời bao điều rất đẹp. Và nhiều việc quan trọng được bàn bạc đồng ý ngay qua stt hoặc com trong cài đặt quyền riêng tư gia đình chỉ hai vợ chồng có quyền đọc com thỏa mái!.
Như thế fb tiện lợi há!. Huyên kể chuyện có duyên y hồi còn học lớp mẫu giáo. Trong lúc kể anh chàng khi thì gắt gỏng khi nũng nịu giọng âm ấm... Phương cảm nhận không biết đúng không nhưng cứ cho là vậy đi bởi đạo đời mà đã thương thương cả ruột già ruột non.
Huyên viết stt:
"Thời tiết tháng 10 âm lịch mà nóng quá!. Hồi hôm xem tivi chiếu cảnh biển Cửa Đại bị xói lở thấy kinh khủng!. Còn đâu bãi biển thơ mộng một thời làm nên thương hiệu cho phố cổ Hội An. Hàng sáu bảy trăm mét như vậy chỉ còn bờ cát sâu hoắm cả dãy khu resort nguy cơ ụp xuống biển...".
Những stt, com như vậy không là gì... Nếu như... Nếu như Phương và Huyên không bất ngờ gặp nhau.
Cả hai ngờ ngợ... Một chặp lâu sau mới nhận ra là đã từng kết bạn với nhau trên fb!. À hằng gì thấy quen quen. So với ảnh đại diện đăng trên trang Huyên không khác mấy và Phương cũng vậy.
Theo Fb "Một phần trong sứ mệnh của chúng tôi là trao cho bạn khả năng chia sẻ để mở rộng và kết nối thế giới.".
Thông tin mới nhất hiện giờ có tới trên bốn lăm triệu người Việt Nam xử dụng internet bằng một nửa dân số.
Con số chưa rõ đúng mức nào nhưng có điều quan tâm trong đó bao nhiêu phần trăm ứng dụng internet hữu ích. Fb một kênh ra đời từ công nghệ này lại là "chuyện thường ngày ở huyện" tất tần tật mọi sự đều có...
Nhiều người cùng nhận định fb hay tương tự như fb chỉ là ảo. Con số like, com chỉ tương đối biểu thị sự có người xem, thích một gì đó phần tảng băng chìm mới thực. Có rất nhiều chỉ xem cảm nhận rồi thôi chứ không tỏ rõ chính kiến. Cái thú vị fb chỉ có chức năng khen là chính!.
Tuy vậy bên cạnh những khoe mẽ có nhiều stt trả lời câu hỏi của fb thật sự liên quan đến mọi việc như sau bức thư(*) "Thư gửi con gái của Mark Zuckerberg:
"Max yêu thương,
Mẹ con và cha không thể diễn tả hết niềm hi vọng mà con dành cho cha mẹ về tương lai. Cuộc đời mới của con ngập tràn những hứa hẹn và cha mẹ hi vọng con sẽ được hạnh phúc, khỏe mạnh để có thể khám phá trọn vẹn cuộc đời đó. Con đã trao tặng một lý do để cha mẹ suy ngẫm về thế giới mà cha mẹ hi vọng con sẽ lớn lên trong đó.
Cũng như tất cả các đấng sinh thành, cha mẹ muốn con lớn lên trong một thế giới tốt lành hơn thế giới chúng ta đang sống hôm nay.
Mặc dù tin tức trên trang nhất các báo hôm nay đều nói về những điều tồi tệ, nhưng trên nhiều phương diện, thế giới đang trở nên tốt đẹp hơn. Y tế đang cải thiện. Nghèo đói đang giảm dần. Kiến thức ngày một gia tăng. Mọi người đang kết nối với nhau. Tiến bộ công nghệ trong mọi lĩnh vực cho thấy cuộc sống của con sẽ tốt hơn đáng kể so với cuộc sống của chúng ta hôm nay.
Cha mẹ sẽ đóng góp sức mình để giúp điều đó thành hiện thực, không phải chỉ vì cha mẹ rất yêu con, mà còn vì chúng ta cũng mang trách nhiệm đạo đức với tất cả những trẻ em trong thế hệ tương lai.
Cha mẹ tin rằng mọi sinh linh trên đời đều có giá trị bình đẳng, và các thế hệ tương lai sẽ có nhiều người hơn nữa so với hôm nay. Xã hội chúng ta có trách nhiệm đầu tư trong hôm nay để cải thiện cuộc sống tất cả những ai sẽ gia nhập thế giới này, không phải chỉ vì những người đã và đang sống.
Nhưng ngay lúc này đây, không phải lúc nào chúng ta cũng dành mọi nguồn lực cho các cơ hội cũng như những vấn đề lớn nhất mà thế hệ của con sẽ phải đương đầu.
Nói về bệnh tật chẳng hạn. Hiện chúng ta đang chi phí cho việc điều trị người đau ốm gấp 50 lần so với khoản tiền đầu tư cho những nghiên cứu để các con không bị ốm đau ngay từ đầu.
Y khoa chỉ thực sự trở thành một ngành khoa học trong gần 100 năm qua và chúng ta cũng đã chứng kiến những liệu pháp điều trị triệt để với một số căn bệnh và các tiến bộ khả quan cho các bệnh khác. Khi công nghệ phát triển, chúng ta cũng sẽ đột phá trong việc phòng ngừa, chữa trị và kiểm soát tất cả, hoặc gần như tất cả những bệnh tật còn lại trong 100 năm tới.
Ngày nay, hầu hết mọi người đều chết bởi năm loại bệnh - tim mạch, ung thư, đột quỵ, thoái hóa thần kinh và các bệnh truyền nhiễm - và chúng ta có thể tạo nên những đột phá nhanh hơn trong những vấn đề này và những vấn đề khác.
Khi cha mẹ nhận thức rằng thế hệ của con và thế hệ của con cái con rất có thể sẽ không phải gánh chịu bệnh tật nữa, cha mẹ đã cùng nhận trách nhiệm sẽ dành sự đầu tư của mình hướng tới tương lai để hiện thực hóa điều này. Mẹ con và cha muốn đóng góp sức mình.
Chữa trị bệnh cần có thời gian. Trong một khoảng thời gian ngắn 5 hay 10 năm, có vẻ như chúng ta sẽ không tạo được nhiều khác biệt. Nhưng về lâu dài, các hạt mầm đã gieo hôm nay sẽ nẩy chồi, và một ngày nào đó, con và các con của con sẽ được nhìn thấy những gì chúng ta có thể hình dung: một thế giới không còn bệnh tật.
Có quá nhiều cơ hội như thế này. Nếu xã hội tập trung nhiều nguồn lực hơn và những thách thức lớn đó, chúng ta sẽ để lại cho thế hệ của con một thế giới tốt đẹp hơn…
…
Rất nhiều những cơ hội tuyệt vời nhất cho thế hệ con sẽ bắt đầu từ việc tạo điều kiện để mọi người được tiếp cận Internet.
Mọi người thường nghĩ về Internet chỉ như một công cụ dành cho giải trí và liên lạc. Nhưng với rất nhiều người trên thế giới, Internet có thể còn là một chiếc phao cứu sinh.
Nó mang lại giáo dục nếu con không sống gần một ngôi trường tử tế. Nó giúp con thông tin về cách phòng chống bệnh tật hay nuôi dưỡng con cái khỏe mạnh nếu con không sống gần một bác sĩ. Nó cung cấp các dịch vụ tài chính nếu con không sống gần một ngân hàng. Nó giúp con tiếp cận việc làm và các cơ hội nếu con không sống trong một nền kinh tế tốt.
Internet quan trọng đến nỗi cứ 10 người được tiếp cận Internet, lại có một người thoát khỏi đói nghèo và một công việc mới lại được tạo ra.
Dù vậy vẫn còn tới hơn một nửa dân số thế giới - hơn 4 tỉ người - chưa được tiếp cận Internet.
Nếu thế hệ chúng ta có thể kết nối họ, chúng ta sẽ giúp cho hàng trăm triệu người thoát khỏi nghèo khó. Chúng ta có thể giúp hàng trăm triệu đứa trẻ được học hành và cứu sống hàng trăm triệu sinh linh thông qua việc giúp mọi người phòng tránh bệnh tật.
Đây lại là một nỗ lực dài hơi khác có thể được thúc đẩy nhờ công nghệ và sự hợp tác. Nó sẽ đòi hỏi việc sáng tạo thêm công nghệ mới để giúp Internet có giá thành hợp lý hơn và giúp các vùng không có mạng Internet có cơ hội kết nối.
Nó cũng sẽ cần sự hợp tác với các chính phủ, các tổ chức phi lợi nhuận và các doanh nghiệp. Nó cần sự gắn kết với cộng đồng để hiểu rõ họ muốn gì. Những người giỏi luôn có những tầm nhìn khác nhau về các lộ trình đi tới tốt nhất, và chúng ta sẽ phải nỗ lực rất nhiều trước khi thành công.
Nhưng cùng nhau, chúng ta có thể thành công và tạo ra một thế giới bình đẳng hơn.
…
Nếu chỉ riêng bản thân công nghệ sẽ không thể giải quyết mọi vấn đề. Xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn sẽ phải bắt đầu bằng việc xây dựng những cộng đồng khỏe mạnh.
Trẻ em có được những cơ hội tốt nhất khi chúng có thể học hành. Và chúng sẽ chỉ học tốt nhất khi chúng khỏe mạnh.
Khỏe mạnh ngay từ đầu đời - với gia đình yêu thương, dinh dưỡng tốt và một môi trường ổn định, an toàn.
Những đứa trẻ phải đối mặt với những trải nghiệm bi kịch đầu đời thường sẽ có tâm lý và thể trạng phát triển kém lành mạnh. Các nghiên cứu cho thấy các biến đổi thực tiễn trong sự phát triển của não bộ sẽ dẫn tới khả năng nhận thức kém hơn.
Mẹ con là bác sĩ và cũng là một nhà giáo dục, mẹ con nhận thức rất rõ điều này.
Nếu con có một tuổi thơ không lành mạnh, sẽ rất khó để con phát huy hết tất cả tiềm năng của mình.
Nếu con còn phải lo lắng về việc có đủ thức ăn không hay phải thuê nhà, hay lo lắng về các nạn lạm dụng hay tội phạm, cũng thật khó để con có thể phát huy hết tiềm năng bản thân.
Nếu con sợ mình sẽ phải vào tù mà không được vào đại học chỉ vì màu da, hay sợ gia đình con sẽ bị trục xuất vì tình trạng cư trú của mình, hay con có thể là nạn nhân của bạo lực chỉ vì tôn giáo, vì xu hướng tình dục hay vì xác định giới tính của con, khi đó cũng thật khó để con có thể phát triển toàn diện năng lực bản thân”.
Qua bức thư vợ chồng Zuckerberg cho biết sẽ hiến tặng 99% cổ phiếu đang sở hữu tại tập đoàn Facebook (ước tính trị giá 45 tỉ USD) cho quỹ từ thiện Sáng kiến Chan Zuckerberg do chính họ điều hành. Quỹ sẽ tập trung vào các vấn đề học tập cá nhân, chữa trị bệnh tật, tiếp cận internet và xây dựng những tòa nhà cộng đồng.
Bạn Phạm Đăng Quỳnh đã viết: "Facebook hỏi tôi đang nghĩ gì ?
Tôi đang suy nghĩ về lá thư và món quà mà vợ chồng ông chủ của quý vị tặng cho nàng công chúa bé bỏng mới sinh của họ . Thực ra đó là món quà vĩ đại mà quý vị sẽ tặng cho nhân loại.
Xin cúi đầu tạ ơn vợ chồng Mark Zuckerberg.
Xin cúi đầu cảm ơn nước Mỹ vĩ đại đã sinh ra những con người vĩ đại.
Tôi không thể không quan tâm đến nền văn minh và nền giáo dục của quý quốc. Con trai út của tôi đang tuổi du học cũng nghĩ như vậy.".
Nãy giờ Huyên lang thang mạng. Cũng như bạn Quỳnh, Huyên đọc bức thư của anh chủ Fb lòng rộn lên bao niềm cảm phục. Bức thư làm Huyên suy ngẫm... tự vấn...
Tại sao mình lại nhỏ mọn cằn cựa như thế!. Phải chi mình nghèo khó cho cam đàng này so với bạn cùng trang lứa Huyên sớm thành đạt. Đất Sài Gòn này ai không biết Huyên nhưng biết chăng là tính hỡm đời... Thì đời mà lúc khó khăn một thân một mình ra đi vô đây bươn chải nào ai hay đến nỗi có bà con gần trong họ cũng thờ ơ nói gì người dưng nước lã. Bảo sao Huyên khi giàu có mà giàu có lương thiện không nghĩ suy. Huyên đọc lại bức thư Mark Zuckerberg gởi con gái vừa chào đời càng yêu cuộc đời yêu Phương hơn. Huyên dự định...
Dự định đầu tiên Chủ nhật này rủ Phương về quê. Quê Huyên vùng đất từng nổi tiếng trù mật đã qua bốn mươi năm hòa bình cuộc sống vẫn còn nhiều vất vả... Mà chịu thôi trai gái qua tuổi đi học thường ra đi tìm kế sinh nhai tứ phương. Ở quê còn người lớn tuổi như vậy làm sao phát triển!. Việc ứng dụng cơ giới vô sản xuất không chỉ cho nhanh mà chính là giải quyết khâu lao động. Có người nói vui xin cảm ơn ông Nhật bà Tây... chứ làm như mọi khi có khóc ròng!.
Ấy là nói cái thời con trâu đi trước cái cày, đập lúa bằng cái bồ, mọi thứ đều gánh; vác trên đôi vai... còn đi đâu xa gần chủ yếu nhờ cặp cẳng!.
*
Truyện này viết lâu rồi và bị lạc trong fb. Fb như rừng không rành chẳng biết đâu mà lần còn rành thì lại nhiều khi chưa chắc tốt! Vậy nên "biết đủ là đủ..." truyện cũng dài rồi dài là do chép y thư của "chủ thớt" mà cũng dài thật truyện ngắn xin dừng lại tại đây sau bảy năm tìm thấy./.
Hòa Văn
(19/1/2015 - 23/8/2022)
-------
(*): -Nguồn bản dịch Việt ngữ tuoitreonline
-Nguồn Anh ngữ xem link:
https://mobile.facebook.com/notes/mark-zuckerberg/a-letter-to-our-daughter/10153375081581634/?refid=17&_ft_=top_level_post_id.10153375081581634%3Atl_objid.10153375081581634%3Athid.4%3A306061129499414%3A51%3A0%3A1451635199%3A-5022841594854288103
Thứ Ba, 29 tháng 6, 2021
Ngô Văn Cư: Truyện ngắn LÀM ĐĨ
Nhà văn Ngô Văn Cư
Cảm giác bị theo dõi, không tin tưởng luôn đè nặng tâm trí Thao. Mỗi lần nhìn Nhi Ngọc vui vẻ với vô vàn đồ chơi, chị lại thương quay quắt con bé Thúy phải ngồi
trong củi đợi mẹ về. Không ít lần chị phải cố giấu giọt nước mắt. Việc làm nhẹ nhàng và có thu nhập để trang trải nhưng áp lực tâm lý làm chị cảm thấy mệt mỏi.
Ở nhà, còn biết bao chuyện phải lo. Quý, chồng Thao, bị tai nạn sập giàn giáo. Từ khi xuất viện, anh chỉ cử động được mỗi tay, còn đôi chân dù đã cố gắng hết mức
nhưng vẫn không thể nhúc nhích. Bác sĩ động viên nếu tĩnh dưỡng, tập tành thì vẫn có thể phục hồi được. Nhưng liệu phép màu có xảy ra? Thao luôn xoa bóp và giúp
chồng tập luyện cơ thể để vượt qua tâm lý buông xuôi. Cô chỉ yêu cầu anh canh chừng bé Thúy đang nhốt trong củi cạnh chỗ nằm. Anh có thể vói tay ra khỏi thành
giường và lên tiếng khi con bé quấy khóc. Chỉ bấy nhiêu thôi là chị có thể yên tâm kiếm tiền lo thuốc thang và chi tiêu. Đã nửa năm rồi, đôi chân của Quý có nhiều
triển vọng nhưng tiền bạc cũng đòi hỏi nhiều hơn. Nhưng Thao còn biết làm gì khác ngoài việc làm osin theo giờ này. Chị cũng dò hỏi nhiều nơi nhưng chưa có
nơi nào thu nhập cao, nhẹ nhàng và ổn định như ở đây. Cứ lo xong việc người, chị lại bù đầu vào việc nhà mà không một lời ca thán. Chị an ủi, thôi phận mình nó
thế!
Cho đến một ngày…
Cuối tuần. Sau tiết mục giao lưu với bè bạn, bà chủ tiếp tục vui chơi trên sàn nhảy. Ông chủ phải về với Nhi Ngọc. Hình như rượu làm ông chủ đánh mất vẻ đạo mạo vốn có, không còn giữ tác phong lịch lãm. Ông đã lao vào Thao như con thú nhịn đói lâu ngày. Mặc cho chị chống cự, van xin
nhưng con thú hung dữ, mạnh bạo, dâm loạn trong lòng ông chủ đã sổng chuồng và mặc sức tung hoành, dày vò trên thân thể chị.
Chị uất ức nhìn sự thỏa mãn trên khuôn mặt bóng nhẫy và sự lạnh lùng của kẻ chỉ biết chiếm
đoạt mà thấy lòng mình trống rỗng như đánh mất thứ quý giá nhất. Chị cắn chặt môi, cầm cự với tiếng nấc nhói lòng, trôi bồng bềnh giữa nỗi đau và bất
lực. Chị hổ thẹn, nhục nhã, rã rời nghĩ đến những người quen thuộc; người chồng bất hạnh đang nằm liệt giường; đứa con nhỏ dại một mình với những thứ đồ chơi cũ kỹ… Chị vịn vào đâu để khóc bây giờ? Chị cảm thấy mình
thật có lỗi với chồng con và lúc nào cũng cảm thấy bà chủ đang dò xét mình.
Chị dặn lòng đừng bao giờ để ông chủ có dịp lần nào nữa. Thế nhưng, có lúc chị lại an ủi với cái ý Mình còn gì để mất đâu! Nhất là khoản tiền được ông
chủ cho thêm để mua sự im lặng. Số tiền này có thể cho chị đủ để lo cho chồng con… Những lời tỉ tê, xa gần rằng bà chủ chỉ ham vui chơi; thiếu trách nhiệm làm vợ, làm mẹ; không còn mặn nồng tình nghĩa vợ chồng như trước; thương chị hiền lành… là vũ khí ông chủ tấn công Thao.
Chị thì mặc kệ những lời lấy lòng kia nhưng vẫn có lần thứ hai, thứ ba và những lần khác nữa đã xảy ra. Chị tắc lưỡi cho qua. Cuộc đời không cho chị qua.
Mặc dù ông chủ kiểm tra để xóa hoặc tránh những nơi camera có thể ghi hình nhưng bà chủ vẫn bắt gặp một đoạn clip giữa chị và ông chủ. Lại một buổi chiều
cay đắng, chị đối diện với bao ê chề, tủi nhục. Đứng trước một xấp tiền cũng gọi là mua sự im lặng, Thao nghe bà chủ chì chiết:
-Tôi không ngờ cô là người đổ đốn, lợi dụng lòng tốt của tôi…
Hãy cầm tiền và cuốn xéo khỏi đây! Đừng để tôi gặp mặt… Đồ đĩ…
Rất nhiều lời lẽ khó nghe khác nhưng Thao chỉ nghe có thế.
Nhìn khuôn mặt đểu cáng và đồng lõa của ông chủ, chị muốn quăng xấp tiền vào
mặt nhưng tiếng Đồ đĩ cứ dội âm âm vào tâm trí chị. Ừ, là đĩ thì chị làm chuyện kia chỉ vì tiền nên chị cầm xấp tiền và quay đi, không một tiếng giã biệt.
Ừ,thì Đồ đĩ! Ừ, thì Làm đĩ! Chị đã rơi vào cái nghề được xem là hạ lưu nhất trong xã hội khi nào vậy? Chị nghĩ đến chồng đang bại liệt, nghĩ đến con còn nhỏ dại và nhiều thứ khác để đi đến một quyết định…
Thao bắt đầu đối diện với muôn mặt đời thường. Chị phải bôn ba với nhiều việc làm nhưng trụ lại với việc bán vé số, một nghề không cần nhiều vốn và kiến thức. Mọi người xầm xì là chị bán đắt có thể là do ở dáng dấp bề
ngoài. Thao không đẹp. Chị chỉ cân đối, dễ nhìn, trắng trẻo cùng với giọng nói nhỏ nhẹ vì quen chịu đựng khiến chị không lẫn vào những người lang thang bán vé số. Với xấp vé số trên tay, chị lê la khắp hang cùng ngõ hẻm; khắp quán sá, tụ điểm… Nhưng ai cũng biết chị ngoài việc bán vé số
còn bán cả những thứ khác nữa. Nói trắng ra là chị làm đĩ. Chị cần tiền và phục vụ những kẻ thừa tiền, ham của lạ. Mặc cho người ta dày vò và thỏa mãn, chị không quan tâm miễn là có tiền… Chị đã lên giường với nhiều hạng người khác nhau: giàu có, sang trọng, địa vị xã hội cao, nghèo khổ, lao động nặng nhọc… nhưng tất cả họ đều giống nhau khi đã trút bỏ hết áo quần. Không còn vẻ đạo mạo, khệnh khạng hay khúm núm, tất bật; không còn những lời ngọt mật mà trần trụi thô lậu, phàm phu, tục tỉu nhằm làm dịu cơn dục vọng mặc nỗi ê chề mà chị phải đón nhận. Với nghề mạt hạng này, Thao biết có thể làm tan nát một gia đình; làm sụp đổ đường thăng tiến, công danh một con người nhưng chị lại có cái nhìn khác khi gặp một tình
huống trớ trêu. Chị bị bắt khi đang trên giường cùng với một người đàn ông không mảnh vải che thân; bị đưa về đồn; bị quy vào tội bán dâm. Người xử lý chị là một cán bộ đứng tuổi, chị quen, rất quen. Đó là khách của chị. Chị đã nhiều lần lên giường với anh ta. Không phải vì anh ta có tiền, cũng không phải đẹp trai hay có sức khỏe mà vì chị muốn yên ổn hành nghề ô nhục này. Cũng có thể gọi là một cách hối lộ. Một sự thỏa thuận hay lợi dụng lẫn nhau.
Chung thuyền. Nhưng bây giờ, anh ta đại diện cho luật pháp, Thao là kẻ có tội. Những lời lẽ giáo huấn, răn đe để xã hội tốt đẹp, yên ổn vừa mềm dẻo vừa khô cứng của người cán bộ như một bài học thuộc lòng lại biến thành tiếng thở hổn hển của người đang làm tình dội vào tai Thao. Chị bị phạt hành chính và nhắc nhở. Trước khi ra về, người đại diện pháp luật nói riêng với chị: Chiều mai, sáu giờ, vẫn chỗ cũ. Nhá! Nếu chị không dằn lòng thì đã buột ra hành lời: Đồ đĩ miệng! Chị chấp nhận bán trôn nuôi miệng còn hơn
vạn lần kẻ bán miệng, bán linh hồn để sống. Nhưng chị hơi đâu để ý. Chị phải vội về với người chồng bại liệt và đứa con còn nhỏ dại.
Thao vẫn phải kiếm tiền. Chị vẫn phải rảo chân trên đường phố, quán xá để góp nhặt từng đồng. Nhiều người gọi chị làm đĩ. Ừ thì làm đĩ nên biết bao lời tán tỉnh của những gã đàn ông quen thói trăng hoa không hề làm chị
động lòng, xem đó là không nghiêm túc thoáng qua nhưng chị vẫn sẵn sàng lên giường với bất cứ gã nào có tiền. Chị cần tiền, thế thôi. Nói không ngoa
là chị đã có kinh nghiệm hơn từ khi bị bắt. Chị cẩn trọng và không thể dễ
dãi. Chị kiếm tiền bằng cách đu đưa với đàn ông. Chị là đĩ bán chuyên nghiệp! Chỉ từ khi bệnh tình của anh Quý có dấu hiệu hồi phục, đã tự ngồi
được dẫu còn khó khăn, đau đớn, anh có thể chăm sóc bản thân và chơi đùa với con, Thao bỏ hẳn việc bán vé số dẫu rằng thu nhập từ nó cũng khá. Gia
đình đã ấm áp trở lại với những tiếng cười, tiếng nói vui tươi. Tiền vẫn cần
nhưng Thao cần cuộc sống yên ổn và gần gũi chồng con hơn, chị mua máy may và nhận gia công quần áo tại nhà cho công ty may mặc, chấm dứt việc lang thang trên phố với xấp vé số. Cuộc đời đâu để ai muốn là được. Đôi lúc chị nhận cuộc gọi từ những máy lạ hẹn hò nhưng khi chị từ chối thẳng thừng
thì cũng không ai làm phiền. Duy chỉ có một số máy bám riết chị vào mỗi buổi chiều. Chủ số máy khoe là đã điều tra rõ ngọn nguồn sinh hoạt của Thao và hắn khẳng định là đã từng thâm nhập vào đời sống riêng tư của chị,
biết rõ chị. Giọng nói qua điện thoại, chị không biết là ai, bởi chị có để ý đến
người đàn ông nào khác, ngoài chồng! Hắn hẹn đến nhà nghỉ để trao đổi. Bị từ chối. Không nghe máy. Hắn khẳng định là trong tay hắn có những tấm
hình nhạy cảm của Thao trong những nhà nghỉ. Hắn nhắn tin dọa sẽ đưa chuyện chị bán dâm lên truyền thông. Một con người lì lợm và khó chịu.
Hắn tự giới thiệu là một văn nghệ sĩ từng có bài đăng ở báo cấp tỉnh khiến chị hoang mang. Đành phải hẹn… Lại đánh đổi để lấy sự im lặng của hắn. Chị ngỡ chỉ cần lên giường một lần là bịt được mồm hắn. Chị lầm! Rất lầm!
Hắn bám chị như đĩa bám chân trâu, chị lại sợ vốn chữ nghĩa của hắn. Nếu hắn viết bài đăng báo, chị thì không đọc bao giờ, nhưng sẽ có nhiều người
đọc. Hắn cứ khuấy cho đời chị xáo trộn, chị thì muốn yên ổn. Thà rằng chỉ một vài người biết việc xấu xa chị đã từng làm trong quá khứ còn hơn lên
mặt báo để mọi người cùng biết và có khi nó lưu giữ đời đời. Nhục chết!
Nhiều lần chị muốn nói thật với chồng cho lòng nhẹ bớt và chịu sự trừng phạt hay tha thứ nhưng chị chưa dám bởi bệnh anh Quý vẫn chưa thuyên giảm hẳn. Chị phải chấp nhận những đòi hỏi của hắn… Ngày trước chị làm đĩ là để kiếm tiền, nay thì kiếm sự im lặng. Dẫu kiếm gì đi nữa, chị vẫn là làm đĩ! Mà làm đĩ với nhiều người để được tiền sẽ dễ chịu gấp ngàn lần với làm đĩ cho một người khi lòng nơm nớp lo sợ. Một nỗi sợ mơ hồ xâm lấn tâm hồn chị vào mỗi khi tiếng chuông điện thoại reo. Chị sợ mỗi lần hắn tỉ tê rằng “Gia đình anh không hạnh phúc”, “Hãy để anh chăm sóc cho em”,
“Anh cần em và bất chấp quá khứ”… Chị rạch ròi giữa tình yêu gia đình và
công việc, chưa hề yêu thích khách hàng của mình, nhất là hắn. Nhưng tự bao giờ chị thành nô lệ tình dục cho hắn? Và bây giờ chị mới đau khổ biết
rằng đã phản bội Quý, dù rằng bị ép buộc. Không hóa đơn, không hợp đồng, không ràng buộc, không trách nhiệm, cứ xong cuộc mây mưa thì ai về nhà nấy nhưng chị làm sao giải thích với mọi người được khi việc đi lại rành
rành như thế? Chị héo hắt với muôn ngàn nỗi éo le. Và một buổi chiều éo le đã đổ ập vào chị, vào gia đình chị.
Một người đàn bà đi cùng hai người khác đến tận nhà Thao giới thiệu là vợ của văn nghệ sĩ. Và một trận đánh ghen tơi tả nơi tổ ấm chị đang vun đắp. Những tiếng cướp chồng, giựt chồng, làm đĩ cùng với tiếng đấm tiếng
đá xảy ra ngay trước mặt Quý. Anh chết trân nhìn vợ bị đánh ghen mà không thể làm gì được. Đứa con nhỏ thấy mẹ bị đánh khóc ré lên. Chị cắn răng chịu
đựng, đợi khi bọn người kia đi rồi chị mới tức tưởi khóc. Chị thấy mình thật đáng trách. Đáng xấu hổ. Đáng nguyền rủa. Đáng không được tha thứ. Chị đợi một lời trách móc, giận dỗi; đợi một sự hắt hủi, ghét bỏ; đợi một ánh mắt
khinh bỉ, nổi giận từ chồng. Nhưng chị lại không tin vào tai mình:
-Em đi tắm rửa và lo cơm chiều cho con. Đừng khóc nữa mà con sợ…
-Không! Em có lỗi với anh…
-Anh biết hết rồi!
-Biết hết rồi?
-Không phải ai sinh ra cũng muốn làm đĩ và cũng không ai lựa chọn được số phận của mình. Đời bắt làm đĩ thì phải làm đĩ thôi em à. Anh đã biết chuyện từ khi em nghỉ giúp việc cho gia đình cán bộ kia… Nhưng mà hoàn cảnh…
-Anh…
-Thôi đi! Anh cũng có lỗi bất cẩn trong lao động để em khổ…
-Anh…
- Dù có chuyện gì xảy ra chúng ta vẫn là một gia đình yêu thương và tha thứ lẫn nhau…
-Anh! Em không còn xứng đáng…
Không! Em xứng đáng ngẩng cao đầu hơn vạn kẻ đạo đức giả khác.
Thằng nghệ sĩ, văn sĩ kia mới là kẻ cướp vợ, kẻ làm đĩ đánh đu sự giả dối để lợi dụng… Đó là kẻ đáng phỉ nhổ… Hắn sẽ bị trừng phạt!Thao như người đuối nước gặp được phao. Đang bế tắt thì bị đánh ghen nhưng lại mở cho chị một con đường mới. Trước đây, chị đạp lên miệng đời để sống, không căm giận kẻ xem mình là đĩ; không chửi rủa lại kẻ gọi mình là đồ đĩ. Chị căm ghét công việc này, nhưng đó là cách duy nhất chị có thể kiếm thêm tiền. Chị mặc kệ tiếng thị phi, đàm tiếu sau lưng mà mơ ước có được một gia đình êm ấm, nơi an vui cùng nụ cười chồng con.
Nhiều lần chị thầm khóc khi suy nghĩ về phận đời của mình. Bây giờ chị có thể khóc lớn trước mặt chồng. Hình như anh Quý cũng đang khóc…
Người vợ của văn nghệ sĩ lại tìm đến khi gia đình Thao đã yên ổn. Mụ ta khóc lóc, van xin chị cứu giúp người nghệ sĩ, chồng mụ, khỏi cảnh tù tội.
Chị giật mình khi biết trong điện thoại của hắn có chứa những đoạn phim
ngắn ghi lại cảnh giường chiếu mà nhân vật nữ chính là chị. Hắn ta đã lén
ghi hình bao giờ vậy? Mỗi cuộc nhậu hắn đều khoe với bạn bè như khoe một chiến tích. Và trong một lần như thế, hắn bị bắt về tội tàng trữ và phát tán
hình ảnh khiêu dâm, đồi trụy! Từ đầu mối này, hắn có thể lộ ra nhiều tội lừa đảo khác. Mụ vợ phải chạy vạy, năn nỉ nhiều nơi trước khi cơ quan điều tra
làm việc và nơi này chỉ cần Thao nhận là người tình của chồng mụ, ghi hình để làm kỷ niệm…
-Không ai tin lời con đĩ đâu! Tôi đã một lần làm đĩ. Chuyện đã qua lâu rồi. Với lại, tôi không đĩ miệng để kiếm sống! Tôi không là người tình của ai cả. Hãy để cuộc đời diễn ra đúng trình tự của nó…
- Chị không những cứu chồng tôi mà còn một người nữa nhờ tôi kêu cứu tới chị…
-Ai?
-Chị còn nhớ người đã thả chị khi bị bắt?
-Không!
-Chỉ cần ở một clip, chị nói không nhớ người không rõ mặt kia là ai…
Còn tôi?
-Hình ảnh rất rõ!
-Trời đất! Bọn người chúng bay là bọn vô liêm sĩ. Không dám chường mặt ra cuộc đời mà luôn lên giọng rao giảng đạo đức. Hãy để gia đình tôi được yên. Và nên nhớ rằng tôi chỉ là con đĩ bán trôn đã không còn hành nghề. Hãy để tôi giữ lại chút trung thực còn sót lại…
Và Thao quay sang nựng bé Thúy để mặc mụ vợ nghệ sĩ ngồi ở góc
nhà kể lể những việc làm sai trái của chồng và những người bạn của hắn…
Thứ Hai, 2 tháng 11, 2020
Hòa Văn: RỪNG... RƯNG RƯNG
Truyện ngắn
HỒI mới hòa bình về lại quê, Tri có một thời cùng anh em thanh niên trong xã đi nông trường Quyết Thắng trồng chè nên gọi Tri chè, để phân biệt với Tri ở cuối xóm – tới giờ trên năm lăm tuổi rồi mọi người vẫn gọi thế.
Lâu quá tôi mới có dịp ghé lại nhà thăm và rủ nhau đi lên đồi núi chơi. Ông Tin cha của Tri chè, người trông hơi mệt nhưng vui lắm vì trước đây khi chưa đi Sài Gòn, tôi thân với gia đình và cùng Tri đi trầm. Ông Tin tuổi đã trên tám mươi, da dẻ hồng hào, người cứng cáp sắc thái đĩnh đạc. Tôi khen “Tri ở vậy nuôi ông già, chắc ghê!” Hình như câu lỡ lời của tôi chạm vào nỗi niềm thầm kín của ông, khi đứa con trai độc nhất ở tuổi “tri thiên mệnh” rồi mà chẳng chịu lập gia đình, khiến ông Tin buồn thiu quay mặt vào vách tường khúc khắc ho.
Tôi đánh trống lảng: “Như Tri mà được, chứ kiểu thằng Vương có vợ bằng không!” Ông Tin nói: “Kể chi vợ con thằng nớ!”.
Tri chè cười cười rồi giục tôi đi kẻo trễ. Nhìn những quả đồi trơ trụi, tôi bần thần như người mất hồn, không tin nỗi cớ sự đến như thế nầy!. Nơi mà chỉ cách đây hai mươi mấy năm rừng có rất nhiều loại gỗ quí hiếm, cây lá bạt ngàn, đi cả ngày không thấy vạt nắng nào rộng hơn cái nong phơi lúa.
Tri nói: “Mấy hôm nay trời mưa không khí dịu bớt, chứ nếu không chừ oi bức nắng rát da không chụi nỗi đâu!!”.
Đâu rồi tiếng chim hót véo von, tiếng nước suối róc rách chảy! Dạo ấy tôi rất thích vườn chim cu gáy ở nơi đây. Không rõ chúng tụ tập lại làm tổ từ bao giờ, mà sinh nở ra rất đông đúc. Khi chứng kiến cảnh chim mẹ đút mồi cho con ăn mới thấy hết tình “mẫu tử” của loài vật đâu kém con người?. Mỗi lần nghe tăm hơi chim mẹ vỗ cánh bay về, chim non nằm trong ổ nôn nả há mỏ to hết cỡ để chim mẹ mớm mồi. Mọi sự việc bình thản đáng yêu quá! Được cái không ai phá phách tổ hay bắt chim nhờ thế đàn chim chẳng có chút gì sợ sệt con người. Thế mà giờ… Tri kéo tôi đi…
***
Hương trời đất theo gió bám vào nơi trầy xướt trên thân cây dó bầu, lâu ngày biến thành trầm hương. Đó là theo tương truyền dân gian còn khoa học xác định khi cây dó bị thương tích, chất dầu trong cây tụ lại đề kháng bệnh, dần dần chuyển hóa thành trầm. Kinh nghiệm những cây dó có trầm thân cành thường xơ xác.
Những chuyến đi tìm trầm hương kéo dài. Có một đêm đang ngủ say, tôi bổng thấy tất cả rừng bị huỷ diệt. Không như chuyện cổ tích Công chúa ngủ trong rừng, từng nghe cậu Tám kể hồi còn học lớp 4 trường làng, với bao hình ảnh tươi đẹp của quê hương, nào là có bà tiên Hiền, cô tiên Lành, trìu mến yêu thương trẻ thơ, khuyên nhủ mọi người hãy giữ gìn môi trường sinh thái tự nhiên và lúc nào cô Tiên cũng tặng cho tuổi thơ những điều ước tốt đẹp.
Trong cơn ác mộng tôi thấy bọn quỷ dạ xoa đang tâm đốt cả đại ngàn. Lửa ngùn ngụt bốc cháy, cháy, cháy… Muông thú chạy tán loạn… Cây cối to nhỏ quằn quại đau đớn trong lửa đỏ. Bầu trời mù mịt khói và tro bụi. Từng đàn, từng đàn chim chơi vơi bay, bay… Không biết chúng chạy và bay về đâu?. Bị mắc kẹt bịt bùng trong đám lửa khói cháy, tôi hoảng hốt, miệng ú ớ liên hồi... chân cố hết sức chạy thoát, nhưng chẳng được… cả người như đang bị một vật gì đó quá nặng đè bẹp xuống đất...
Bỗng bà Tiên Hiền xuất hiện nắm tay tôi kéo bay vút đi lên không trung.
***
Mới đó đã qua trên hai mươi mấy năm. Giờ không chỉ là giấc mơ, mọi việc đang xảy ra rành rành... Rừng… rưng rưng.
Tri chè vẫn y nguyên hồi xưa, suốt một buổi tâm sự chuyện cũ chuyện mới rôm rả, mặc cho ai nói gì thì nói anh chỉ ngồi cười cười, nụ cười giống hệt nụ cười của các bà mẹ vùng trung du nầy, rất hiền và ẩn chứa mạch sống mãnh liệt của núi rừng thuở nào!. Nhiều người tỏ ý lo ngại trước sức tàn phá không nương tay của con người, núi rừng sông suối ngày một hoang tàn, môi trường bị huỷ hoại…
Tri chè cũng chỉ cười cười nói: “Biết làm răng chừ!”./.
Hòa Văn
(4/2012)
-----
Ảnh: Internet
Thứ Ba, 13 tháng 10, 2020
Tiểu Nguyệt: CHUYỆN NGÀY XƯA CỦA MẸ TÔI
Trong lòng tôi sôi nổi bao cảm xúc trào dâng, buồn vui lẩn lộn. Ngang qua thửa ruộng ven đường, tình cờ nhìn thấy một phụ nữ đang cúi khom người cấy dặm, đã làm tôi giật mình. Tôi đưa bàn tay lên ngực nén trái tim đang đập mạnh và hít thở thật đều để ngăn bớt sự xúc động, hồi hộp. Hình ảnh mẹ tôi thuở nào chợt hiện ra, như thấp thoáng đâu đây. Tôi luôn gặp mẹ trong những giấc mơ; những cử chỉ, lời nói dịu dàng nhắc nhở, hay bàn tay âu yếm vỗ về tôi những khi tôi gặp chuyện không vui, những khi tôi vấp ngã, đã hằn in trong tâm trí tuổi thơ tôi như được khắc sâu tự bao giờ. Một thời, nhạc phẩm “Bông Hồng Cài Áo” của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã làm tôi xao xuyến rưng rưng mỗi khi nhớ về mẹ - mẹ như dòng suối diệu hiền êm ái chảy qua lòng tôi, cho tôi sự tươi mát hạnh phúc; có khi người là ánh đuốc soi đường thắp sáng trong những nẻo đường gai gốc tôi đi. Hình dáng mẹ trong tôi tuy gầy gò, nhỏ nhắn; nhưng có đôi tay vững chải, đã che chở, sưởi ấm, dẫn dắt năm anh chị em tôi đều đến được bến bờ an vui dù một thân trải qua bao khó khăn, vất vả. Những năm tháng, dù lẩn quẩn trong cảnh túng thiếu, mẹ vẫn luôn nhắc kể về chuyến thăm quê như một niềm vui lớn, một hạnh phúc hiếm hoi của đời bà.
Từ dạo đó, khi không còn mẹ nữa, anh chị em tôi luôn nhớ lời tâm tình tha thiết của mẹ, và năm nào sắp đến tết, anh chị em tôi luôn cùng nhau trở về thăm lại làng xưa; dù nơi ấy bây giờ đã đổi thay, vắng dần người thân yêu cũ.
Trước mắt tôi, kia là gốc đa già đầu làng mà tôi và mẹ đã ngồi nghỉ trong chuyến mẹ con tôi về thăm khi tôi tám tuổi. Chân tôi đau rát khi đi bộ trên con đường đất (bây giờ đã bê tông hóa) dài năm cây số giữa trưa nắng chang chang. Mẹ tôi vỗ về “Con ráng chút nữa là đến nhà” như truyền cho tôi sức mạnh để tôi bước tiếp. Gốc Đa còn sừng sững đấy mà mẹ tôi đâu rồi? Tôi nghĩ, mẹ tôi chắc vẫn đâu đây, người đang dõi theo bước chân chúng tôi với niềm vui, với tình yêu thương vô bờ.
Tôi nhớ, nhớ vô cùng đêm trăng năm nào, trên vuông sân gạch, chúng tôi quây quần bên rổ đậu phụng nấu, mẹ đã kể cho chúng tôi nghe về cuộc đời của cha và mẹ. Tôi nghe tiếng mẹ tôi như còn thì thầm bên tai...
***
Thịnh là trưởng nam của ông bà Chung, một gia đình giàu có ở xã Duy An, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Rồi một ngày, ông bà Chung dạm hỏi Tuyết cho Thịnh và đám cưới được tổ chức trong sự mừng vui của cả làng; bởi Thịnh học giỏi, nhưng không ỷ lại sự giàu sang, mà có lòng thương tưởng đến mọi người . Hơn một năm sau, Thọ - cậu con trai của Thịnh ra đời trong tình yêu thương của cha mẹ, họ hàng. Thọ ra đời đúng vào thời gian cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, lan rộng, đang đi vào giai đoạn quyết liệt nhất. Học sinh ở các trường, từ lớp Bảy đến lớp Chín (1945 - 1951) đều phải tham gia tuyển chọn để sung vào bộ đội. Hạnh phúc chưa được bao lâu thì Thịnh cùng những thanh niên trong làng, theo đoàn quân nam tiến.
Tuyết thay anh chăm sóc cha mẹ, một mực yêu thương, chia sẻ; nhưng cô không thể thay đổi được những lời đay nghiến, quở trách xa gần của mẹ chồng và cô em gái lớn tuổi, khó tính. Tuyết vẫn luôn tự khuyên mình, hãy nên gắng sức làm vừa lòng họ, và cô nghĩ rằng đó là những người thân yêu của anh. Cô yêu quý anh, thương con - nên không thể xa lánh, ghét bỏ họ được.
Tuyết không hiểu sao mẹ và em gái lại đối xử tệ bạc với cô như vậy. Tình yêu thương của cô chỉ được đáp lại bằng sự ghét bỏ, xa lánh! Ngày rời xa gia đình về làm dâu, sống với Thịnh, cha cô đã dặn: “Con nên nhớ, “ái nhân nhân ái chi” - hễ thương người, thì người thương lại thôi !” - nhưng cuộc sống thực tế sao lại vậy? Cái cảnh mẹ chồng nàng dâu và nhất là những cô em chồng lớn tuổi Tuyết đã nghe nói nhiều, nhưng cô không nghĩ cô em chồng lại quá quắt như vậy. Tuyết làm gì họ cũng không vừa ý, và Tuyết như chiếc bóng lẻ loi trong căn nhà thênh thang ấy. Tuyết cô đơn, buồn tủi, nhớ anh và trong lòng cô luôn mơ về một chuyến vào nam để lập nghiệp và cũng là để tìm anh.
Rồi ngày ấy đã đến, như một số phận. Bà Chung nghe lời con gái, khéo léo gọi Tuyết đến ngồi bên, nói sẽ gởi mẹ con Tuyết về nhà mẹ đẻ, vì gia đình bà ngày càng khó khăn. Tuyết cảm thấy uất nghẹn, đớn đau, khi nghe mẹ chồng đòi gởi trả cô về nhà cha mẹ. Cô cũng cảm thấy bên nỗi đớn đau, còn có sự tủi nhục mà cô không đáng phải nhận.
Qua đèo Cù Mông, Tuyết dừng chân ở đất Phú Yên. Cô bơ vơ giữa xứ người. Sau một tháng mẹ con nấn ná tạm bợ nơi hiên chợ, sân chùa; Tuyết đã gặp được bà Hoài, như một duyên lành mầu nhiệm đưa đẩy. Tuyết được bà Hoài nhận làm con nuôi khi tình cờ gặp nhau trong một quán cơm ở bến xe ngoài thị xã. Như có một sự dẫn dắt, sắp đặt - họ đã đồng cảm và cần nhau khi hiểu rõ hoàn cảnh của nhau.
Tuyết theo bà Hoài về nhà. Bà Hoài là một phụ nữ không con, chồng chết, sống một mình ở vùng Thạch Chẩm, xã Hòa Xuân. Gặp được mẹ con Tuyết, bà Hoài rất vui, vì từ đây bà không còn cô độc nữa, bà cũng có con, có cháu vui cửa, vui nhà. Hằng ngày Tuyết cùng mẹ nuôi tráng bánh gánh ra chợ Hòa Xuân bán, và còn phụ giúp mẹ nuôi chăm sóc ba sào ruộng để có hạt ăn. Tuyết dò hỏi tin tức của chồng nhưng không ai biết gì về đơn vị của anh, cô lặng lẽ làm việc, và luôn âm thầm nuôi hy vọng đến một ngày nào đó.
Khoảng đầu Xuân năm 1952, như thường lệ, một buổi sáng gánh bánh ra chợ, Tuyết nhìn thấy một toán bộ đội giăng dây đón bộ hành qua cầu Bàn Thạch để kiểm tra. Có vài người đàn bà gánh gồng, bưng xách im lặng vội quay lại đi lối khác.
Thịnh cũng sững sờ khi nhìn ra Tuyết trong dáng hao gầy, nghèo khó. Anh cầm lấy bàn tay Tuyết mà cứ ngỡ là trong một giấc mơ. Tuyết đang đứng trước mặt anh, đôi mắt dịu hiền đăm đăm nhìn anh, mà không nói được câu nào. Có lẽ, Tuyết cũng nghĩ như anh - mình đang sống trong một giấc mơ chăng?
Cuộc gặp gỡ bất ngờ như một phép mầu, trước sự xúc động của bao người; nhất là những đồng đội của anh. Sau phút ngỡ ngàng, họ ôm choàng lấy nhau mà nước mắt cứ chảy dài…
Tuyết vẫn về ở cùng bà Hoài, cũng hằng ngày tráng bánh mang ra chợ bán; nhưng cô đã biết được tin tức anh, liên lạc được với anh, thỉnh thoảng được gặp nhau ở khu trại của đơn vị anh đóng dưới chân đèo Cả.
Sau bảy mươi lăm ngày đàm phán, Hiệp định Genève về chiến tranh Việt Nam đã được ký kết, hòa bình được lập lại. Sau ngày 20 tháng 7 năm 1954 tin “đình chiến” đã được loan báo rộng rãi, đem lại niềm vui to lớn cho toàn dân Việt, sau 9 năm gian khổ. Thịnh không theo đơn vị tập kết ra Bắc, xin được ở lại, đưa mẹ con Tuyết cùng bà Hoài về lập nghiệp tại Hòa Mỹ. Anh đã chọn nơi này làm quê hương thứ hai.
Anh cũng như Tuyết, chăm sóc bà Hoài như mẹ ruột, rất mực hiếu thảo. Bà không sinh ra Tuyết, nhưng nuôi dưỡng, đùm bọc mẹ con cô lúc khốn khó, bơ vơ. Cuộc sống hai vợ chồng anh êm đềm bên đồng ruộng, bên vườn rau, ao cá mà anh hằng mơ ước. Ước mơ đơn sơ, nhỏ nhoi là vậy, mà anh và Tuyết đã phải trải qua bao sóng gió, gian truân mới có thể thực hiện được.
Tuyết mở một cửa hàng tạp hóa nho nhỏ ngay nhà để bán cho bà con trong làng, còn Thịnh ngày ngày ra đồng chăm lo cho mấy sào ruộng. Cuộc sống khấm khá dần, và những cô con gái của họ lần lượt ra đời như những đóa hoa biết nói: Cúc, Hồng, Mai, Liễu. Thịnh muốn đặt tên cho con là những loài hoa, để mong cho đời con, có thêm ý nghĩa, vui tươi, không như đời của cha mẹ. Bông cúc vàng khoe sắc trước thềm xuân, đóa hồng đỏ thắm xinh tươi chưng trên bàn mỗi ngày, mai vàng rực rỡ báo hiệu xuân về, và cành liễu thắm bâng khuâng bên bờ hồ thơ mộng...
Hòa Mỹ là một xã nằm về phía tây nam thuộc huyện Tuy Hòa - thuở ấy, là một vùng quê có nhiều rừng núi.
Người dân những vùng “xôi đậu” này đã dần quen với những cảnh như thế, vì cuộc sống gắn liền với thửa ruộng mảnh vườn. Ai cũng nghĩ, tiếng súng, tiếng bom không có gì lạ đối với họ, có thể trốn tránh; nhưng chỉ lo sợ đạn lạc thì không chừa ai bao giờ. Và, vào một buổi sáng mùa thu, Thịnh đã nằm xuống khi một viên đạn vô tình oan trái đã bay lạc vào giữa ngực anh. Anh chỉ kịp nói với vợ bằng tiếng đứt quãng, thì thào “Em đưa các con lánh đạn bom, xuôi về dưới huyện…” rồi trút hơi thở cuối cùng trong tiếng kêu gào, than khóc của vợ con.
Thịnh đã nằm lại đây khi cả nhà phải chạy về phố huyện. Sau cái chết tức tưởi nhanh chóng của Thịnh, tiếng nổ ngày càng nhiều, cảnh chết chóc tang thương diễn ra thường xuyên trong làng, ngoài bờ ruộng, kiềm giữ mọi người nằm mãi trong hầm trú ẩn. Sau cùng, họ đành cắn răng dắt nhau chạy từng đoàn xuôi về huyện. Tuyết đưa mẹ Hoài và các con chạy theo đoàn người. Ai cũng mệt mỏi vì lo sợ, chân tay rã rời, nhưng vẫn cố dìu dắt nhau mà bước.
Đến Phước Bình thì trời đã tối, mấy mẹ con Tuyết xin ngủ nhờ ở nhà một người ven đường. Ông bà chủ nhà thật tốt bụng, nấu cơm cho mấy mẹ con cô ăn, còn giúp cô tìm mua một miếng đất của người quen để làm nhà tạm ở. Thế rồi mấy mẹ con Tuyết cũng dựng được ngôi nhà nhỏ, lợp tole, bên cạnh chùa Ân Quang. Tiếng chuông chùa công phu sáng tối đã đem lại cho tâm hồn cô những giờ phút an tĩnh, vơi bớt ưu phiền, tin yêu cuộc sống hơn. Và cô đã ngày đêm chăm chút nuôi dạy các con với niềm ước mơ như Thịnh đã nói, rằng các con của mình sẽ học hành đến nơi đến chốn.
Nhà gần chùa, nên các con của cô luôn về chùa lễ Phật, nghe quý thầy cô thuyết giảng, nên đứa nào cũng chăm ngoan, biết thương người và hiếu thuận. Ngoài giờ đến trường, các con của cô luôn phụ giúp mẹ mọi việc trong nhà - nhất là khi cô cần đến. Có lẽ chúng cũng đã nhận ra sự bất hạnh của mẹ, và nỗi khó khổ của gia đình mình?
Tuyết mua củi của những người đi núi hái về, chẻ ra bó từng bó nhỏ rồi gánh ra chợ Tuy Hòa bán. Hai người con lớn của cô phụ mẹ gánh củi, trông nặng nhọc vất vả đấy, nhưng chúng vẫn luôn nở nụ cười chia sẻ với mẹ.
Đến mùa gặt, Tuyết lại ra đồng cắt lúa mướn; người ta khúm công mỗi ngày cũng hơn giạ lúa. Tuyết siêng năng, ai mướn gì cô cũng làm, để có thêm thu nhập, mua sách vở và học phí cho con.
Rồi Tuyết xoay sở mở tiệm tạp hóa lại tại nhà như trước, để đỡ vất vả, có thời gian ở nhà chăm sóc con hơn. Hai chị em Mai và Liễu muốn giúp đỡ mẹ nhưng loay hoay mãi không biết làm gì. Hai đứa rủ nhau đi mót lúa, bẻ măng; Tuyết biết được - rầy la con, vì sợ chúng lơ là việc học.
Sau năm 1975, Tuyết đưa các con trở về Hòa Mỹ - nơi Thịnh đã nằm xuống, gởi nắm xương mình và là quê hương thứ hai mà anh đã chọn để phần nào được gần gũi, sưởi ấm linh hồn anh.
Hằng năm, cứ vào khoảng 17, 18 tháng Chạp Tuyết đều về thăm quê nội, về mái nhà xưa ở xã Duy An, huyện Duy Xuyên như một niềm hạnh phúc không thể thiếu.
Các con của Tuyết đã dần dần trưởng thành, ai cũng được đi học đến nơi đến chốn. Mai, Liễu, Hồng là giáo viên dạy trường gần nhà; Cúc là cán sự điều dưỡng làm ở bệnh viện huyện; Thọ là kỹ sư nông lâm, công tác ở sở Tài Nguyên và Môi Trường. Các con của Tuyết đều đã lập gia đình, ai cũng có cuộc sống hạnh phúc. Hằng năm, các con cô đều tham gia cùng nhau chuyến trở về thăm quê, mà chúng gọi văn vẻ là “Chuyến Về Nguồn”.
Một sáng mùa thu năm 1985 - như anh, Tuyết đã ngủ một giấc dài và không bao giờ trở dậy nữa, sau ngày giỗ của anh. Có lẽ anh đã đón Tuyết khi biết cô đã hoàn thành trách nhiệm với các con. Có lẽ anh và Tuyết đang nắm tay nhau ở một cõi vô hình xa xăm nào.
-Sao mà đờ đẫn thế Liễu? Tới nơi rồi, sao không xuống?
Tôi như vừa trải qua một cơn mê dài, mỉm cười - lật đật xuống xe:
-Dạ! Em xuống liền.
Các cháu - con người em (con cô Ba của tôi) chạy ra chào đón, chúng vui vẻ phụ mang mấy thùng đồ trong xe vào nhà. Lòng tôi bâng khuâng khi ngắm khoảng sân rộng trước nhà, nơi đây ngày xưa cha tôi đã từng chạy nhảy, vui đùa; nơi đây ghi dấu bao kỷ niệm một thời của cha mẹ tôi. Năm nào tôi cũng về đây, mỗi lần về, tôi đều nao lòng với cảnh cũ, người xưa qua lời kể của mẹ. Một cảm giác bâng khuâng không tả được, chỉ biết rằng cái khoảng trời ngày ấy, cả không gian, thời gian như đọng lại nơi đây, làm tôi nuối tiếc, buồn bâng quơ.
Chúng tôi ra thăm mộ ông bà nội, ngoại; thắp nén hương, cầu nguyện.
Chúng tôi cùng dắt nhau đi thăm từng anh chị em họ hàng nội ngoại trong làng. Sự trở về của mấy anh chị em tôi, như sưởi ấm tình thân của họ hàng nội ngoại, như chất keo càng gắn kết chúng tôi lại với nhau. Tôi thầm cảm ơn mẹ tôi, người đã hy sinh cả cuộc đời vì chúng tôi, đã hướng cho chúng tôi biết nhớ về nguồn cội, để được hạnh phúc, để có niềm vui, niềm an ủi lớn lao cho đời mình.
Sau một ngày thăm viếng bà con, họ hàng; anh chị tôi đã mỏi mệt, ai cũng muốn nghỉ ngơi, ngủ bù vì đường xa . Riêng tôi, dù cố gắng nhắm mắt nhưng không tài nào ngủ được. Tôi nằm đó, trăn qua, trở lại với bao hình ảnh quay cuồng trong cái đầu nhỏ bé.
Tôi trở dậy, bước ra sân. Trăng đã lên cao, ánh sáng dịu dàng, óng ả tỏa xuống khắp sân vườn một vùng sáng bàng bạc, mênh mông; và tôi như thấy cha mẹ tôi từ trên cao đang nhìn xuống, mỉm cười.
TÁC PHẨM ĐÃ XB: "KHÚC HÁT YÊU THƯƠNG" (Truyện Ngắn & Tùy Bút) NXB HỒNG ĐỨC
BÀI XEM NHIỀU
-
Quảng Nam có nhiều món mắm cho dù mang nó đến bất kể vùng miền nào không lẫn vào đâu được. Đó là nắm cá cơm than, mắm cá nục, mắm cá thính...
-
Chiều cạn Cạn chiều rồi phải không em câu thơ chặt khúc khi đêm ùa về dọc bờ bóng khuất bên tê lơ thơ nhặt phía nẻo quê nỗi buồn b...
-
Tạp văn Thầy giáo Cần Hồi đi học nhiều thầy, cô đặt vào tâm khảm tôi nhiều dấu ấn đẹp và rất đẹp!. Học lớp vỡ lòng ở quê (làng Đô...
-
Tạp văn Ảnh bão Haiyan ở Phi Ảnh bão Haiyan ở Phi Các nước ở bên bờ biển Thái Bình Dương là nơi ít nhiều đều hứng chịu sự hung dữ của bã...
-
TRUYỆN NGẮN HÒA VĂN Ngó lớn bổng rứa chứ tuổi còn “Ăn chưa no lo chưa tới…”. Mẹ tôi hay nói như vậy với các bà bạn hàng xóm. Qu...









