Truyện ngắn, Truyện cực ngắn, Tạp văn, Thơ, Bạn văn, Nhạc, Tranh ảnh, VĂN HỌC NGHỆ THUẬT, Truyện dài

Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2014














 











CHÚC QUÝ VỊ & CÁC BẠN NĂM MỚI AN KHANG - THỊNH VƯỢNG - HẠNH PHÚC!. 


TKS QUÝ VỊ & CÁC BẠN ĐÃ DÀNH THỜI GIAN ĐẾN VỚI TRANG RỘT RÀ.








NĂM MỚI 2014 


MONG ĐƯỢC HÂN HẠNH CHÀO ĐÓN QUÝ VỊ & CÁC BẠN THƯỜNG XUYÊN!.



Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

24 THÁNG 12












 







Sáng 22 tháng 12





 


Bây giờ mấy giờ rồi nhỉ?. 
Khang Di he hé giở chiếc chăn bông ra khỏi mặt, nhìn qua tấm kính cửa sổ,
bên ngoài trời sáng trưng. Độ này chắc hơn tám giờ rồi chứ không ít.




Khang Di tự hỏi và trả lời
trong bụng như thế. Cả đêm hôm qua cô trằn trọc mãi và không rõ đã chợp mắt
ngủ từ bao giờ...











Gần đến Noel thời tiết hồi
nào cũng vậy. Mưa lất phất và đặc biệt lạnh. Đúng như bài Thánh ca mà Khang Di
nghe hồi còn nhỏ xíu, bây giờ đã hai mươi tuổi rồi. Thật là thời gian qua đi
nhanh như mũi tên bay...









“Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh
ra đời...”.




"Bài ca nầy Dương Phương hát thì tuyệt!. À mà quên đã tự hứa không nhắc đến anh chàng tên Phương ấy
nữa!". Khang Di lại tự trách mình như vậy khi trong đầu cô bé đang lần lượt hiện
ra cơ man hình ảnh anh chàng “đáng ghét” ấy.







Khang Di lắc lắc đầu khi soi
gương chải tóc. Kiểu tóc búp bê ôm khuôn mặt bầu bĩnh non tơ như thế ai mà
không để ý được. Với lại Khang Di một cây bút truyện ngắn đang lên đồng thời
học giỏi nữa chứ!. Nếu ai đó bây giờ đứng đàng sau cô bé mà ngắm nhìn bộ dạng,
khuôn mặt mái tóc, đôi mắt của cô in rõ mồn một trên tấm gương cô đang soi sẽ
không thể nào “ghét em” được cho mà coi!.




Thế mà hiện giờ cả hai một
chàng và một nàng mang tên Dương Phương và Khang Di đang “ghét” nhau!.









Khang Di thẫn thờ ngồi vào bàn trang
điểm. Phải chi ngày hôm ấy hai người không “cãi cọ” nhau
thì chắc Khang Di chọn màu son hồng nhạt – màu son Dương Phương thích nhất – Và
chính Khang Di cũng rất thích bởi nó chỉ được đánh phơn phớt cho tôn hơn lên
thôi chứ đôi môi bình thường đã mọng màu son rồi!.




Đàng nầy...









Chiều hôm qua khi nhỏ Trân
Anh đến nhà bảo:




“Thôi chuyện nhỏ như con thỏ
mà!. Hai “ông - bà” làm lành lại đi để nhóm bạn “tứ quý” của bọn mình đủ đôi bốn
cặp!. Noel sắp tới rồi...”.









Nói thiệt trong lòng của
Khang Di nguôi dần sự hờn dỗi nhưng lại nói:









“Ông” Phương phái Trân Anh đi
“sứ” à!.”









“Mô có!”









Trân Anh vừa nói vừa lắc đầu
và giơ ngón tay trỏ lên ý nói “xin thề”.









Bên ngoài trời bắt đầu mưa
lâm thâm kèm theo từng luồng gió bấc. Mưa gió gây nên cái lạnh nói theo kiểu bà
ngoại hay nói “Lạnh thấu xương!”. Khang Di mặc thêm chiếc áo ấm màu cánh sen –
cũng lại là màu “ông” Dương Phương “thích”!. Và chính anh chàng mua từ phố
cổ Hội An về tặng. 



Dương Phương học hơn Khang Di hai năm cùng
trường Sư phạm. Hồi còn học chung bậc phổ thông trung học đã quen nhau sơ sơ.
Bây giờ có gần gũi hơn chút nhưng gì thì gì cả hai hẹn khi Khang Di ra trường
hãy tính...!.




Phố Hàn mưa lạnh. Những chiếc
áo khoác đủ màu được các cô nữ sinh, sinh viên “khoe” ra khiến thành phố vốn lịch
lãm, mặn mà thường ngày thêm mặn mà – lịch lãm bội lần!.









Khang Di đang ở tâm trạng chờ
một lời tin nhắn hay một cuộc gọi từ anh chàng “đáng ghét” ấy thế mà chiếc điện
thoại trở nên vô duyên thật, nó nằm im trên bàn.









Khang Di đi loanh quanh trong
phòng. Ba đi làm chắc gần về, mẹ cũng vậy. Út Nhân đi học trung học phổ thông
chắc sắp về...




Phải chi ngày hôm qua “Ừ” cái
rẹt để nhỏ “đại sứ” Trân Anh đi về bắn tin cho anh chàng biết “Khang Di hết
giận rồi!” thì hay biết mấy!. Khang Di ngẫm nghĩ...









Chủ nhật rồi Dương Phương hẹn
Khang Di và các bạn trong nhóm “tứ quý” đi Tam Kỳ thăm dì của Khang Di đang nằm
viện. Dương Phương lại bỏ đi về quê vì một việc gì đó. Mà sau đó theo Dương
Phương tại ông cậu điện và nhờ chở đi về quê gấp nên không kịp báo cho Khang Di
và các bạn biết. Như vậy cả hai việc đều quan trong cả. Một bên là thăm dì, một
bên bận đi chở cậu. Nhưng Khang Di cứ ngúng nguẩy bảo: “Chắc chi...” Cô bé giận quá
đã nói lỡ lời “Bất cần!” Dương Phương và Dương Phương cũng thiếu kiềm chế nói
lại “Thế thì thôi!”. Và cả hai chia tay hồi thứ Hai tuần trước đến giờ.










              * * *









Tối 23 tháng 12





 


“Con à! Noel đến rồi!. Sao con
lại quấn chăn ở trong phòng một mình vậy?”









Khang Di nghe rõ lời ông già
Noel nói.









“Ngoài phố giờ vui lắm con
ạ!. Các cây cầu bắc qua sông Hàn đang rực rỡ sắc màu. Con đường xung quanh sông
Hàn rất đông người đi Noel. Còn ở các nhà thờ không khí thật ấm áp và thắm
“Tình yêu thương” con ạ!. Ông biết con đang có điều gì không vui trong lòng
phải không?. Trông kiểu con nằm bó gối, khuôn mặt buồn rười rượi như thế nầy
ông đoán thế. Ngồi dậy con. Ngồi dậy trò chuyện cùng ông một chút thôi. Tối nay
ông còn đi thăm tặng quà các bạn nhỏ nữa mà... Ông giải thích lễ chính thức cử
hành vào ngày 25 tháng 12 (Lễ chính ngày) còn tối 24 tháng 12 gọi là lễ Vọng. Trước
lễ Noel 4 tuần là Mùa Vọng và sau 25 tháng 12 là 12 ngày Mùa Noel.









Khang Di ngồi dậy. Đúng
thật khung cảnh Noel phố xá thật đông vui quá!. Những cây thông Noel được trang
hoàng chu đáo lộng lẫy hẳn mọi năm. Ở nhà thờ càng rộn ràng hơn. Cô đứng lặng người nhìn
hang Bêlem, nơi đấng hài nhi sinh ra đời trong máng lừa. Khang Di thầm nhủ
“Cuộc đời của mình có gì là khó khăn gian khổ đâu?. Lúc nhỏ và bây giờ cũng vậy
ba mẹ, ông bà mọi người đều dành cho mình mọi sự chăm lo ân cần. Đời sống còn
nhiều thiếu thốn... mà ai không vậy...”.




Bất chợt Khang Di lạnh toát
mồ hôi. Dương Phương mới đứng cạnh Khang Di mà giờ biến mất rồi... Anh chàng lạc
vào giữa đám đông người kia rồi... Cô bật khóc.









Ông già Noel vỗ vỗ vai Khang
Di:






“Con nín khóc!. Ông sẽ gọi, sẽ biểu
anh chàng gì gì ấy... À! Dương Phương của con quay trở lại. Ông biết trong lòng
của anh ấy vô cùng bối rối khi phải bước những bước chân xa... xa... con!”









Trong nháy mắt sau khi Khang
Di thôi khóc và khẽ “Dạ. Dạ! Con xin ông...” Dương Phương xuất hiện trước Khang
Di.




Chẳng chút e dè ngượng ngùng
nào... Cô ôm chầm lấy anh chàng.









Cả hai rối rít “Cảm ơn ông
già Noel!”.









Dương Phương xúc động cất cao hát “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...” trong niềm yêu thương ngọt
ngào!.









Khang Di dụi dụi mắt tỉnh
ngủ. Trời vẫn lạnh nhưng tạnh mưa. Khang Di kéo chiếc chăn bông đắp kín người
tính ngủ nướng thêm chút nữa. Chuông điện thoại reo khúc nhạc vui cô biết ngay
là của Dương Phương. Khang Di nghĩ bụng nhất định sẽ "thử ôm” anh chàng “đáng
ghét” một lần như trong giấc mơ!.






24 tháng 12.





 


Noel đã đến!.















                                                                                               
Hòa Văn


                                                                                              
(Noel - 13)


Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

VỀ LÀNG ĐÔNG BÀN























Thường thường, hễ đặt chân đến mảnh đất Đông Bàn, quan
đại thần Phạm Phú Thứ buông xả hết bao “phù hoa” chốn kinh đô, nơi ngày ngày
quan tứ trụ triều đình muốn hay không muốn cũng phải áo mão khăn đai làm phận
sự.




Đi theo về quê lúc nào cũng có Cửu Ri, người
cùng làng. Bộ dạng cao ráo, khuôn mặt chữ điền điển trai, võ nghệ cừ khôi xuất
thân từ lò võ ta tiếng tăm ở quê, Cửu
Ri làm cận vệ từ khi Trúc Đường
Phạm Phú Thứ về kinh nhậm chức. 


Cửu Ri cung kính thưa:


- Bẩm cụ Thượng, mời cụ lên ngựa!


Cụ Thượng nhìn người cận vệ, nhỏ nhẹ nhắc nhở:


- Ngựa! Xe!


Cửu Ri như sực tỉnh, chỉ biết
lắp bắp “dạ, dạ!”. Cả hai tản bộ.





Gò Nổi vùng đất xưa nay có tiếng là đất học của Quảng Nam. Đến khi
Trúc Đường mới 22 tuổi đỗ tiến sĩ, danh đất học càng được khẳng định. Đâu đâu cũng
chú mục về mảnh đất Gò Nổi bốn bề sông nước, nơi cách trở khó khăn, người dân
quanh năm suốt tháng bán mặt cho đất bán lưng cho trời theo nghề làm ruộng,
trồng mía, nuôi tằm, dệt lụa... Thế mà con trai con gái thì phong nhã, nết na,
từ ấu thơ đến lúc trưởng thành luôn bền tâm vững chí hễ có điều kiện là học
hành: học chữ và học lễ nghĩa. Trúc Đường nổi trội là người như vậy.


Người ta thường nói đất địa linh sinh nhân kiệt không sai,
trước và sau Trúc Đường, mảnh đất Gò Nổi có nhiều hiền tài. Riêng Trúc Đường,
đã góp một phần kinh bang tế thế phục vụ đất nước, nhân dân, với tư tưởng canh
tân.


Con đường từ bến Qua Trà về làng như rộng ra bởi những vạt
cỏ dại xanh ngát màu lá, thắm tươi màu hoa đồng nội mùa xuân. Những bông hoa
nhỏ xíu rực rỡ khoe đủ sắc trắng, xanh, đỏ, vàng, tím… trông thật thích mắt,
khiến Trúc Đường thư thả bách bộ rồi bất ngờ dừng chân đứng lại, lớn tiếng
thưa:


- Kính thưa cụ!


Ở hướng ngược lại, một cụ già mắt đã hoa, tay chân run lẩy
bẩy, dáng người thấp và gầy nghe tiếng người chào hỏi vội ngẩng lên. Cụ ngó
chằm chằm một lát rồi hỏi lại:


- Ai rứa hè?


Rồi như nhận ra, cụ tiếp lời:


- Bẩm cụ Thượng Trúc Đường!


Trúc Đường nhanh chóng thưa lại:


- Dạ, dạ, cháu là Trúc Đường, bác ạ!


Cửu Ri cũng lí nhí thưa thưa dạ dạ, sau đó bẩm riêng với
cụ Thượng:


- Dạ, ông đây là bác hương Tri, người Đông Bàn trước.


Trúc Đường, gật gật đầu tỏ ý biết rồi.


Ông hương Tri vui vẻ:


- Sáng nay đình làng mở hội kỳ yên, mời cụ Thượng tham dự.


Trúc Đường cũng vui hẳn lên:


- Dạ, cháu xin dự.




Đình làng Đông Bàn rực rỡ cờ hoa và rất đông người tham
gia lễ hội. Kỳ yên, một lễ hội truyền thống được dân làng tổ chức vào ngày mồng
10 tháng 2 âm lịch hằng năm với nghi lễ cổ truyền có gốc gác Thanh Nghệ Tĩnh,
được các cụ trong làng giữ lệ thường từ hàng trăm năm khi vào đây khai cơ lập
nghiệp, thuở vua Lê Thánh Tông bình Chiêm thắng lợi đến giờ. Ngoài phần lễ có
phần hội gồm các trò chơi dân gian được dân làng hứng khởi tham gia như đua
ghe, hát bộ, diễn võ... Năm nay không khí hội làng càng sôi nổi hơn khi có thêm
hô bài chòi, những chiếc lều tranh tre dựng san sát phía tây sân đình chỗ chơi
bài chòi được làm gọn gàng và đẹp.


Bây giờ, đang buổi họp sau lễ cúng người dự đông nhưng nền
nếp, Trúc Đường nãy giờ hết thăm hỏi kẻ này sang chuyện trò với người nọ. Ai ai
cũng tỏ vẻ vồn vã vừa trọng vừa nể người con của làng đương chức quan thuộc
hàng đầu triều. Họ nói thầm với nhau về tư chất quảng đại, thương yêu dân và cả
tính khiêm nhường vốn có của cụ Trúc Đường.


Sau khi được giới thiệu với mọi người, Trúc Đường đứng dậy
trân trọng cúi đầu chào bà con dân làng và nói: “Mỗi lượt về quê thấy cuộc sống
của bà con ngày một khá lên, thấy lễ nghĩa làng mình được gìn giữ tốt, tôi mừng
lắm!”. Trúc Đường vui khi biết mô hình xe đạp nước, xe trâu nay được bà con
nông dân ứng dụng thành công, trở thành công cụ thủy lợi tiện ích, đỡ bớt bao
nỗi nhọc nhằn của người làm ruộng mà năng suất lúa tăng lên, đời sống khấm khá
trông thấy. Rồi xin làng cứ tự nhiên họp bàn công chuyện, Trúc Đường đi xuống
phía đàng sau chọn chỗ ngồi gần Hương Phong, người bạn cũ thời tóc còn để chỏm,
nay ở quê trồng mía nấu đường. Cả hai chụm đầu thầm thì…





Hương Phong nói với Trúc Đường: “Mong tâm tưởng canh tân
của Thượng thư được triều đình thấu rõ mà làm, được chừng mô dân mừng chừng
nấy”. Trúc Đường ngược lại chỉ bàn những chuyện quê: “Cái cống trên trục đường
lộ đi Đông Bàn sau thấy đã hỏng, ông chủ trì giùm tôi nhân công vật liệu bao
nhiêu, khoảng cuối tháng hai này sửa lại cho đàng hoàng. Thêm nữa, dịp về quê
lần này, tôi ủng hộ một số gạo tặng bà con nghèo khó, ông cũng coi giúp tôi
nghe!”.

                                                                                                               Hòa Văn 

--- 

Ảnh đình làng Đông Bàn hiện nay

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

NHÂN CÁCH




















Năm mươi tuổi Kha Luân đang là cây bút trẻ!.

Đỗ đại học kiến trúc, học ra trường theo ngành nghề đi Đông đi Tây đến cùng Nam tới cực Bắc làm nên biết
bao công trình đẹp và nổi tiếng.


Danh phận có dư là bà nầy bà nọ tuy vậy không rõ tại duyên
phận hay do tính nết của sếp mà cho đến nay khi đã nghỉ việc Kha Luân vẫn là
nữ tướng “phòng không”!.


Chuyện của Kha Luân tự thân đã là truyện nên từ ngày quẳng
cây bút chì, quên các lập trình đồ họa trên máy vi tính cô chúi mũi vào một
công việc mới không ai tưởng viết văn.


Ban đầu viết cho khuây khoả lúc rỗi việc ở nhà quanh quẩn
chăm mấy chậu lan, chậu cúc thế mà giống như cô gái cô gái đương lớn tràn đầy
sức trẻ với bao ham muốn khám phá bao điều kỳ bí của cuộc sống chung quanh Kha
Luân ôm chiếc laptop ngày nầy qua ngày khác chẳng khác gì ôm anh chàng điển
trai trẻ trung yêu mến rầm rầm rì rì không nên lời chỉ toàn chữ với chữ...




Ông trời không phụ công. Kha Luân nổi lên với những truyện
ngắn thu hút độc giả nhiều tờ báo tiếng tăm. Truyện ngắn của nhà văn – bây giờ
được mọi người gọi thêm một danh xưng mới nhà văn rồi! – Truyện ngắn của nhà
văn Kha Luân viết tưng tửng ngó bộ dễ ợt như được móc ra từ cái túi ba gang của
câu chuyện cổ tích “Ăn khế trả vàng” xa xưa... Tức là nhà văn kể câu chuyện sao
mà nó gần gũi... như thế mà lâu nay bao nhà văn trăn trở không biết lấy đâu ra
đề tài để viết, đến khi Kha
Luân viết ra độc giả mà nhất là đồng nghiệp mới à thì ra “biết rồi”!.








Tôi biên tập viên văn nghệ báo... đến sang năm sẽ đến tuổi
hưu. Đáng lẽ như nhiều ông bà sắp hưu khác tôi sẽ tành tành hưởng những giây
phút cuối của cuộc đời “sáng xách ô đi tối xách ô về” đàng này hơn hai năm qua
phải "lăn lộn" trên từng trang bản thảo của Kha Luân gởi tới tòa soạn.


Sáng nay vô email đọc thêm một truyện ngắn mới của Kha Luân
“Chó sữa”.


Cũng văn phong không khúc mắc chẳng chải chuốt y bỡn cợt y
viết cho vui mà lôi cuốn...








Khoan ghi lại truyện ngắn, tôi kể vài chi tiết về bút danh
của Kha Luân.


Số là trong truyện ngắn đầu tiên có cái nhan đề dài ngoằn
“Anh chỉ giùm em cách em xa anh thật nhanh mà không còn chút gì để nhớ!” người
đàn bà tự giới thiệu “Thưa Ban biên tập. Em (đúng tác giả xưng hô như vậy) người
đàn bà năm nay đã năm mươi tuổi đang sống ở 
phố Hàn gởi truyện ngắn nầy đến mong Ban biên tập để ý xem giùm nếu được
lên báo thì em vui lắm!”.




Tiếp sau “em” giới thiệu bút danh có kèm theo tên thật, số
điện thoại... Tôi chưa đọc vội truyện ngắn mà để ý đến bút danh Kha Luân Con,
sao lại Kha Luân Con?. Theo số điện thoại “em” gởi kèm tôi bấm 0905111... điện
thoại không đổ chuông mà nổi lên bài hát của Trịnh Công Sơn “Tình nhớ” với giai
điệu và lời ca thiết tha...








Không lâu sau đó “em” bắt máy:



“Dạ. Dạ em nghe!”.







“Em” là tác giả truyện ngắn... Khi hỏi tôi phải nhìn chăm
chăm vào màn hình vi tính mới đọc đầy đủ tên truyện “Anh chỉ giùm em...”.








Như mũi tên phóng ra khỏi cung sau khi người xạ thủ lẩy cò,
“em” vồn vã cho tôi biết “em” là tác giả và giải thích về bút danh cũng không
kém thú vị (chữ thú vị là tôi tự ngẫm nghĩ chứ không nói cho “em” biết). Đó là
“em” có ước muốn làm một điều gì đó cho văn chương cỡ như nhà thám hiểm Kha
Luân Bố ngày xưa (năm 1492 – chú thích của tôi) đã vượt Đại Tây Dương tìm ra
vùng đất mới Châu Mỹ. À ra vậy... 


Tôi ngã người ra phía sau ghế thoả thích với ý tưởng khá
mạnh bạo của “em” tác giả Kha Luân Con.


Tuy vậy đến khi cho chạy bài tôi lại đề nghị Kha Luân Con
thôi cứ giữ ý tưởng tốt đẹp ấy trong tâm tưởng còn báo sẽ đăng truyện “Anh chỉ
giùm em...” với bút danh Kha Luân.


“Em” đồng ý.

Và vậy là Kha Luân thường xuyên xuất hiện trên trang văn
nghệ của báo... tôi phụ trách và nhiều truyện nữa cũng đăng trên nhiều báo, tạp
chí trung ương và địa phương.








Heo sữa thì rõ rồi... là heo con nuôi đến lúc chuẩn bị dứt sữa người chăn
nuôi bán cho người buôn heo xác họ đưa heo sữa đến các lò quay.


Những con heo mơn mỡn u ú non nớt thật đáng yêu thế mà qua các công đoạn làm
thịt tẩm gia vị và nướng lửa than trở thành một món ăn“khoái khẩu” thịt heo sữa
ở các nhà hàng, quán nhậu.


Ban đầu có tiếng bấc tiếng chì nào là “tội nghiệp” nhưng thời buổi cái gì có
lợi có kinh tế là thiên hạ làm ngang xương lòng chứ “tội tình chi”.


Có một chuyện ở gia đình nông dân X bà vợ thì ưng bán heo sữa bởi nếu tính
toán chi li thị trường mà chạy cứ nuôi nhiều heo nái cho đẻ gối vụ sẽ cho ra
nhiều lứa heo sữa mỗi lứa chi ít cũng mười con, năm con nái mỗi năm đẻ hai lứa
hai mươi con vị chi sẽ có cả trăm con heo sữa, lợi... lợi hơn so với cắc củm
nuôi đến heo tạ lỡ gặp bệnh dịch hoặc giá cả ế ẩm mất cả công lẫn cám!.


Ông chồng vốn “ăn hiền ở lành” thấy vậy “tội” cho heo con quá nên không chịu
thế là hai vợ chồng lục đục cả năm. Về sau do heo sữa rớt giá mối bất đồng mới
được giải toả, gia đình vợ chồng nông dân X êm ấm trở lại.


Đàng nầy...







                                                                                * * *









“Tôi – đứa con gái vừa tròn năm mươi tuổi”. Kha Luân mở đầu truyện như vậy.







Tôi –  biên tập viên trang văn nghệ – đang chăm chú đọc từng con chữ vi
tính cỡ 12, nhỏ nhắn chứa trong đó từng chi tiết... Chi tiết nào ít nhiều cũng
có lý thú. Điều nầy chắc truyện đăng lên mặt báo bạn đọc sẽ đồng ý với tôi còn
bây giờ có thể có bạn nghi nghi ngờ ngờ.








Việc nầy không có gì khác thường vì đúng như vậy. Độc giả luôn được cái
quyền khen hoặc không khen, thích hoặc chưa thích một tác phẩm văn học nghệ
thuật nói chung truyện nói riêng.


Tác giả ít nhiều phải hiểu rõ và luôn giữ tâm thế sẵn sàng đón nhận mọi phản
hồi từ bạn đọc quý mến của mình từ khi đứa con tinh thần được sinh nở. Tôi
không biết Kha Luân đã chuẩn bị trạng thái khen - chê?. Trong văn chương có
điều lạ đôi khi tác phẩm viết nhanh nhất ít “đầu tư” nhất lại được “khen
hay”ngược lại đôi khi một tác phẩm hao công tổn sức nhiều thì chẳng những không
đạt mà còn mang đến bao phiền hà ngoài ngoài ý muốn. Đó là chưa kể có lúc có
người chưa tiếp xúc với tác phẩm đã bình với luận! và gắn lên tác phẩm những
điều nầy nọ theo chủ ý bắt nguồn từ suy diễn nọ nầy...


Những điều trên đây là tôi rút ra từ trong truyện “Chó sữa” của Kha Luân chứ
không phải tự tôi nói như thế.








“Có một hôm sau khi viết xong cái mở đề của một truyện mới tôi (Kha Luân)
nhận cuộc điện thoại từ anh bạn hồi còn trung học phổ thông. Anh Hốt (đúng tên
anh như vậy) tên giữ chữ đặt dù không hay không đẹp như tên Hùng, như Tuấn hoặc
đơn giản gọi theo thứ như Ba chẳng hạn nhưng Hốt chưa bao giờ thổ lộ với ai
việc anh thích hay không thích cái tên do cha mẹ anh không rõ lý do gì lại đặt
như vậy.


Chính thái độ nghiêm túc rất bất thường trên đã khiến cho bạn bè trong lớp
trong trường không ai có ý (hay không dám có ý) nói lời gì “trêu ghẹo” anh,
trái lại lâu nay còn có cảm giác phục anh Hốt học giỏi nhất lớp, nổi tiếng cả
trường!.


Hốt điển trai. Hồi tôi đang học năm cuối bậc phổ thông trung học đã nhận
biết như vậy và đã từng ước mơ... ước mơ được Hốt dành cho riêng mình một tình
cảm gì đó đặc biệt...








“Dạ!. Em có nghe dì Năm nói lại.”







“Dạ!. Dì Năm nói anh đến tìm em để làm gì ấy...”







“Dạ!. Anh về quê bao giờ?”



“Dạ!. Dạ!...”







Qua điện thoại Hốt nói có khi là giọng Sài Gòn có khi quê kiểng chân chất...
Tất thảy đều nhẹ nhàng từ tốn y như ngày xưa.


Anh hẹn gặp tôi vào buổi chiều.







Mùa đông mà buổi chiều thì bạn biết rồi. Thời gian chạy nhanh như trốn ai đó
điều gì. Mới bốn giờ rưỡi mà không gian lờ mờ kiểu như chạng vạng của mùa xuân
hay mùa hạ. Bờ sông Hàn bữa nay tịnh gió nhưng nước dâng đầy và còn rơi rớt lại
đôi cảnh vật xơ xác bởi liên tiếp hai cây bão ập vào cách đây một tháng. Những
cây xanh trốc gốc được dựng lại chưa kịp nẩy lộc. Nghe nói loại sưa vàng dễ tái
sinh nhưng không ít cây ở đây có thể sẽ không vượt qua nổi sự tàn phá của gió
bão vỏ cây bắt đầu khô héo... có màu xám chứ không xanh như vốn có.


Ngồi ở quán cà phê nhìn ra sông tôi thấy anh thoáng vẻ buồn buồn chứ không
vồn vã như hồi mới gặp. 


Tôi hỏi:



“Anh... về có một mình?”



Anh quay lại nhìn chăm chăm vào đôi mắt tôi. Ánh mắt anh vẫn dịu và ẩn chứa bên
trong sự réo gọi gì đó của thời áo trắng. Không trả lời Hốt lại hỏi tôi:








“Nếu anh về một mình?”







Một thoáng bối rối chợt ùa đến trong tôi. Cảm giác mà có lẽ từ bao lâu rồi
mất hẳn. Sự đời luôn cho tôi những thích ứng mang tính có qua có lại len lỏi
vào tôi không rõ từ đâu và lúc nào nhưng chắc chắn không mới. Đã quen rồi với
trọng vọng từ mọi người đến khi xa rời nó lui về với góc khuất riêng mình tôi
mới thấm thía những gì đã qua cứ ngỡ như vật chất chỉ cần tiền là có.








Lúc nầy tôi nhớ một ai đó có lần nói “Điều gì mua được bằng tiền thì không
khen và cũng đừng nên thưởng!”. Xác suất trúng sai của ý nghĩ trên là bao nhiêu
tôi chưa ngẫm nghĩ kỹ theo tôi trong một số trường hợp xác suất đúng hơi nhiều.
Hốt học giỏi đỗ cao nhưng sau chiến tranh anh không xử dụng việc anh giỏi giang
ở trường lớp vào sự nghiệp công danh như kẻ khác. Điều nầy là lạ và có người bảo
lập dị. Tôi thì nghĩ khác. Đúc kết sự học có một nghịch lý rất nhiều bạn cùng
trương lứa ngày đi học xuất sắc lắm ra đời lại hẫng hụt nhiều ngược lại lực học
trung bình nhiều khi yếu lại năng động chớp lấy thời cơ về sau làm ông kia bà
nọ... tóm lại họ thành đạt. Ở quê tôi có người học hành chẳng ra gì mà trở thành đại gia ở thành kia
tỉnh nọ.








Anh nhắc tôi dùng cà phê và cười cười. Nụ cười từng làm tôi mất ngủ nhiều
đêm hồi xa xưa nay vẫn thế. Mỗi lần anh cười khuôn mặt rạng rỡ lên gấp bội lần.








Tôi lí nhí:







“Anh cũng uống cà phê chứ!. Tại anh...”







Tôi bỏ dở câu nói bưng ly cà phê được chủ quán mua hạt về tự rang tự xay
ngay ở quầy cho khách nhìn thấy sản phẩm chính hiệu không có sự pha chế theo
kiểu “cà phê mà không phải chỉ có cà phê”- loại cà phê tự rang và  tự xay này có mùi vị ngon tuyệt.








Hớp một ngụm cà phê định nói tiếp, anh lại nói:







“Về một mình và định nhờ em (anh bao giờ cũng gọi tôi thân mật như thế) một
việc...”




                                                                              
* * *




Cái việc mà anh nhờ tôi có thể nói là thường tình thôi nhưng có điều hơi lạ.
Con trai của anh cùng “dân kiến trúc” với tôi, học ra trường đã mấy năm. Theo
anh nếu nó đồng ý xin việc theo kiểu ngoài quen biết kèm theo “nầy nọ...” thì
chẳng có gì phải bàn. Đàng nầy “Con công không giống lông cũng giống cánh” y
chang tính khí của cha.


Tín (con của anh) nói:



“Con ở nhà nuôi "chó sữa”!”







Và tưởng nói chơi nó làm thật.

Mãnh vườn trên năm mươi mét vuông phía sau nhà được rào chắn chung quanh
bằng lưới B40, phần sát mặt đất lên hơn một mét được che chắn thêm lưới ni lon
ken dày để chó con không rúc ra ngoài. Thế là không rõ từ đâu nó mang về hàng chục
con chó và nuôi...








Anh kể tiếp vợ chồng anh lo lắm mà không lo sao được khi thiên hạ dẫu tốn
tiền muôn bạc vạn cũng lo chạy cho con chỗ nầy chỗ nọ làm gì cũng được miễn có
chân  “ông kia bà nọ” là được. Ai mà lo nghĩ việc thanh với bạch tốt
với xấu có đạo hay vô đạo...”.








Anh dừng kể và nói với tôi:







“Giờ mẹ nó – Mẹ của Tín trước đây với tôi học cùng trường Nữ trung học, tuy
không thân thiết lắm nhưng là bạn – Giờ mẹ nó có viết cho em lá thư nội dung
chính nhờ em cố gắng tìm cho nó một nơi làm việc mà không cần “lệ phí”, chỉ có
như vậy nó mới đi làm...”.


Cầm lá thư nét chữ thân quen của bạn, tôi thật sự khó liệu tính. Nếu nhận
lời giúp theo kiểu “nói nước bọt” không biết được không khi nay tôi đã “hạ
cánh” còn chối từ thẳng thừng thì “thương” anh quá!.








Thấy tôi chần chừ anh giục:







“Em giúp anh nghe!”







Nếu... Nếu ngày xưa ấy anh nhờ em bất kỳ điều gì kể cả “yêu anh” em trả lời
ngay không một giây suy nghĩ:


“Dạ! Dạ! em nghe anh!”. Bây giờ mọi việc đã an bài. Có thể anh nói “Em hãy giúp anh bao nhiêu
tiền...” còn dễ hơn vì em không thiếu tiền nhưng...







Truyện của Kha Luân bao giờ cũng vậy, hay, đơn giản, nhẹ nhàng với những tình
huống tưởng khơi khơi mà ám ảnh mà đau đáu. Vẫn có người như Tín để còn hi
vọng. Nhưng đau hơn là sự bất lực... Kha Luân sẵn sàng đến tận cùng...?.



Cuối truyện Kha Luân cho biết dạo nầy món “chó sữa” đang thịnh hành... 
Tín có tham gia không?.





P/S: Truyện ngắn "Chó sữa" của Kha Luân đăng lên trang Văn nghệ
Chủ nhật của báo... với nhan đề “NHÂN CÁCH".



H.V



-------


Truyện ngắn nếu có sự trùng hợp ngoài xã hội là ngoài ý muốn của tác giả.




Minh họa: Tranh sơn dầu “Tình yêu” của Trần Công Hiến. Ảnh: Phong Trần

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

PHAN KHÔI - NGƯỜI QUẢNG THỨ THIỆT


 








Phạm Phú Phong



Đã có lần tôi hướng dẫn sinh viên thực hiện khóa luận tốt nghiệp
cử nhân về Văn chương Phan Khôi - nhìn từ góc độ thể loại. Nay đọc báo
Tuổi trẻ (số ra ngày 13.6.2013) đưa tin Hội đồng nhân dân thành phố Đà
Nẵng ra nghị quyết đặt tên đường mang tên Phan Khôi, bỗng nhiên dường
như tôi tận mắt nhìn thấy bóng dáng ông lại sừng sững hiện về…


Phan Khôi sinh ngày 6.10.1887 ở làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Là “con một”, cậu ấm của nhà Nho yêu nước Phan Trân và bà Hoàng Thị Lệ,
con gái của Tổng đốc Hoàng Diệu. Cụ Phan Trân là người đã treo ấn từ
chức Tri phủ Diên Khánh vì sự lộng hành của công sứ Pháp.




Phan
Khôi học chữ Hán với cha từ năm 6 tuổi, 19 tuổi đỗ tú tài, chuyển sang
học quốc ngữ và tiếng Pháp. Chủ yếu bằng con đường tự học (ngay cả những
năm bị Pháp giam vì nghi ngờ có tham gia vụ nổi dậy của vua Duy Tân,
ông cũng tự học trong nhà lao Hội An), ông trở thành nhà báo, nhà văn,
nhà thơ, nhà khảo cứu lý luận phê bình, dịch giả và là học giả uyên bác
thời danh, với những bút danh như Chương Dân, Tú Sơn, Thông Reo, Tân
Việt. Và, đồng thời ông còn là con người của thời đại, sản sinh từ các
trào lưu yêu nước như Duy tân, Đông du, Đông Kinh nghĩa thục, có sự
xuyên thấm đến mức nhuần nhuyễn bản sắc văn hóa Việt


với truyền
thống của làng quê văn hiến, hun đúc nên phẩm chất và bản lĩnh của một
con người Quảng Nam “thứ thiệt” sừng sững hơn nửa thế kỷ.
Phan Khôi
là một trong những người tiêu biểu cho “Quảng Nam hay cãi”. Không phải
ngẫu nhiên mà người Quảng có câu “lý sự quá Phan Khôi”. Ông vốn không
phải là người bảo thủ, mà luôn nhạy bén với cái mới. Cái “cốt tính” xứ
Quảng đã ăn sâu vào máu thịt ông, hình thành nên hệ thống tư duy thể
hiện “sự vươn lên của tâm hồn, tinh thần bất khuất, đức tính chịu khó,
hăng hái làm việc nghĩa, rất can đảm, sẵn sàng hy sinh đấu tranh chống
những thế lực đàn áp... Đó là cái trầm lặng của con người nghĩ nhiều,
cảm nhiều, hành động nhiều và gặp trường hợp nào cũng biết nói lớn. Cái
cá tính ấy được thể hiện qua hành động thì vô cùng phong phú. Người xứ
Quảng rất giàu tình cảm, nhưng không bộc lộ ồn ào mà lại thầm kín, bền
chặt. Họ rất giản dị, thiết thực, thẳng thắn chân thành rất giàu nghị
lực. Đó là mẫu người có ý chí cương quyết, có con tim hào hùng” (Vu Gia,
Phan Khôi - báo chí tiếng Việt và thơ mới, NXB Đại học quốc gia TP. Hồ
Chí Minh 2003, tr.82). Phan Khôi là mẫu người như thế.










Vợ chồng cụ Phan Khôi và mộ phần.




 Người
ta hay nói đến phẩm chất Quảng Nam thể hiện ở tính khí con người Phan
Khôi. Nhưng quan trọng và lớn hơn, đó chính là những bước đi tiên phong
trong nhiều thể loại văn chương, góp phần làm thay đổi diện mạo tiến
trình văn học đất nước. Ở đó, ông không chỉ là người mở đầu cho phong
trào thơ mới với bài “Tình già” in kèm lời tự giới thiệu “Một lối thơ
mới trình chánh giữa làng thơ” in trên Phụ nữ tân văn số ra ngày
10.3.1932. Bài thơ là một cơn bão thổi tan bao nhiêu ao tù nước đọng lưu
cữu trong đời sống thi ca, tạo một cuộc cách mạng thật sự, “Một thời
đại mới trong thi ca” như Hoài Thanh đã nói. Phan Khôi không đi một
mình, mà sau ông kéo theo cả một dàn đồng ca: Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Xuân
Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính... có
thể nói, khoảng 50 người thành danh sau ngọn gió Phan Khôi thổi tới.
Chính vì lẽ đó, lâu nay người ta chỉ nhớ Phan Khôi là người mở đầu cho
phong trào thơ mới, mà quên rằng, ông còn là người tiên phong khai mở
cho nhiều thể loại văn học khác. “Nam âm thi thoại” ông viết trên các
báo Nam Phong tạp chí, Đông Pháp thời báo, Phụ nữ tân văn từ năm 1918 -
1932 (sau sưu tập in thành “Chương Dân thi thoại”) thực chất là công
trình lý luận, phê bình thơ chữ Nôm đầu tiên, ra đời trước “Phê bình và
cảo luận” (1933) của Thiếu Sơn. Trên Phụ nữ tân văn (1928), trong chuyên
mục “Câu chuyện hằng ngày” Phan Khôi đã khai sinh ra thể loại nhàn đàm,
một tiểu loại ký xuất hiện từ thời Montaigne (một trong những nhà văn
có ảnh hưởng nhất của thời kỳ Phục hưng Pháp; được xem là người đã đưa
tiểu luận thành một thể loại văn học), với hơn một trăm bài xuất hiện
trên tổng số 273 kỳ báo. Hai truyện ngắn viết bằng chữ Hán “Hoạn hải ba
đào”, “Mộng trung mộng” in trên Nam Phong tạp chí (số 15 và 18.1918) có
thể đặt cạnh những truyện ngắn viết bằng quốc ngữ ra đời cùng năm như
“Câu chuyện gia đình”, “Chuyện ông Lý Chắm” của Nguyễn Văn Ngọc, “Sống
chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn, tuy rằng trước đó Phạm Duy Tốn đã có
“Bực mình” (1914) nhưng còn sơ lược, gần với chuyện kể truyền thống hơn
là truyện ngắn. Tuy nằm trong vỏ chữ Hán, nhưng truyện của ông thể hiện
tư duy nghệ thuật hiện đại. Bên cạnh đó, còn phải kể đến tiểu thuyết
“Trở vỏ lửa ra” (1939), cùng với hàng loạt bài báo đấu tranh đòi giải
phóng phụ nữ, dịch các tác phẩm như “Kinh Thánh” của Kitô giáo (1921),
“Chủ nghĩa Marx và ngôn ngữ” của Stalin (1951), “Truyện ngắn Lỗ Tấn”
(1952)...
Sự tiên phong trong các thể loại văn học thể hiện phẩm chất
Quảng Nam “thứ thiệt” là nhạy bén với cái mới, luôn có nhu cầu thay đổi
tư duy, thích làm cách mạng, không cam chịu thủ phận, không chịu nổi sự
tù túng của số phận, sự chật chội của thời đại đang sống, muốn vươn lên
phía trước, tiên phong khai mở, đi trước thời đại. Ưu điểm nổi bật của
nhân cách kẻ sĩ, nhân cách “danh sĩ đất Quảng” của ông là ở chỗ ấy,
nhưng nhược điểm của ông cũng là ở chỗ ấy. Ông sống có chủ kiến và biết
bảo vệ chủ kiến của mình đến cùng, nhưng không phải cái gì ông cũng
đúng. Ông sống một cách ương ngạnh và toàn vẹn với cả điều đúng đắn lẫn
những sai lầm, khiến người đời có lúc không hiểu ông, thậm chí có lúc
lên án hoặc lãng quên ông. Nhìn lại những bước đột phá trong văn chương
của ông, quả là đã góp phần đưa tiến trình hiện đại hóa văn học nước nhà
tiến lên những bước dài, có thể so với vài mươi năm hoặc non nửa thế
kỷ. Ngước nhìn thành tựu văn chương của ông mà ngưỡng vọng tấm lòng
nhiệt thành của một con chim Việt xa xa trong mù khơi, đậu cành Nho
trong lồng xã hội phong kiến, vọng về phương Đông nhìn ra phương Tây,
thỉnh thoảng cất lên tiếng kêu tha thiết pha lẫn ít nhiều u uất, cực
nhọc, hệ quả của một cuộc đời không mấy thanh thản, thong dong. Nhưng
xét cho cùng, ở vào bất cứ hoàn cảnh nào, ông cũng chính là ông, cũng
toàn vẹn một nhân cách của “danh sĩ đất Quảng” với tất cả ý nghĩa xác
đáng của danh hiệu này.
P.P.P
Theo baoquangnam.com.vn










Thực hiện Nghị quyết Hội đồng
nhân dân thành phố Đà Nẵng tại Kỳ họp thứ 7, nhiệm kỳ 2011 -
2016, cơ quan chức năng đã tổ chức việc gắn bảng
tên đường Phan Khôi tại ngã tư đường Phan Khôi - Hoàng Châu Ký thuộc
tổ 21, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.






Đường Phan Khôi dài
615m, lòng đường rộng 7,5m, vỉa hè 2 bên rộng 4 m, song song
với đường Văn Tiến Dũng ở phía Tây, giao với đường
Hoàng Châu Ký ở khoảng 1/3 đường kể từ đầu đường phía
Bắc thuộc khu dân cư Nam cầu Cẩm Lệ.







Đây là "sự vinh danh xứng đáng cho nhà Văn hóa, nhà báo
Phan Khôi, một người có những đóng góp không nhỏ trong quá trình phát triển văn
học của nước nhà".






Xem thêm:
http://nhavantphcm.com.vn/chan-dung-phong-van/lai-nguyen-an-nhin-nhan-ve-phan-khoi.html


BÀI XEM NHIỀU