Truyện ngắn, Truyện cực ngắn, Tạp văn, Thơ, Bạn văn, Nhạc, Tranh ảnh, VĂN HỌC NGHỆ THUẬT, Truyện dài

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

NỖI NHỚ...






























Mẹ nói những chuyện về đứa con trai
của mẹ là có thật. Tôi lặng lẽ ghi chép tất cả không có một lời bình luận hoặc
thêm thắt nào.






Ngày 17 tháng 02 năm 1979(1)




Mẹ kính yêu!




Con đã đặt chân lên mảnh đất...  – Mảnh đất mà lúc nầy theo như chỉ huy bảo là
của “địch” mẹ ạ!.




Đồi núi nhấp nhô, bình yên, đầy
hoa sim tím... Phía bên kia dãy núi có nhiều ngôi nhà, trong đó chắc chắn có
trẻ thơ và người già. Giờ G sẽ phát lệnh tiến công, C của con đánh mũi trực diện.
Qua điều nghiên của các trinh sát phía ấy không có đồn bót cũng chẳng có binh
sĩ chỉ có đâu mười dân quân trang bị rất sơ sài thế mà con là quân chủ lực nên
mẹ đừng lo gì!.




...




Con của mẹ




Lý...







Mẹ thẫn thờ nhìn ra sân vắng. Hôm
giáp tết con mẹ về mang theo quà tết của đơn vị tặng mẹ, đang sửa soạn mâm cơm
đạm bạc mẹ nấu để tất niên nó vội vội vàng vàng đứng trước bàn thờ  chấp tay bái tiên tổ rồi bảo:






“Thưa mẹ đơn vị gọi con phải trả
phép gấp!”.






Nhanh như sóc con mẹ khoác ba lô
đi... Lá thư đây là hiện vật - lá thư cuối cùng của con mẹ viết từ nơi biên
cương...




(Mẹ cho biết may mà... lá thư được
một đồng đội cùng đơn vị nhặt được mang về trao cho mẹ). 


Mẹ nói:


“Vì Tổ quốc mẹ chẳng ngại con hy
sinh nhưng...”


Tôi hỏi:


“Tại sao nhưng...”


Mẹ đáp:


“Cái nầy khó nói... Ờ... Các anh
hay giả bộ!”


Vuốt vuốt cho lá thư thẳng thớm
{thật ra lá thư có nhàu nát gì đâu?} nó được xếp tư vuông bỏ vào bọc nilon cất
cẩn thận vào ống nứa đặt trên bàn thờ.


Đứng vịn bàn thờ lặng nhìn những
làn hương khói nhẹ nhàng lan toả lên không trung, mẹ khấn vái gì đó thầm thầm
trong miệng nhiều lắm, tôi chỉ nghe được câu cuối:


“Con sống khôn thác thiêng phò hộ
cho mẹ được an lành!”


Mẹ thút thít khóc...


Rồi bảo:


“Anh cũng từng là bộ đội à! Bộ đội
thì phải tuân lệnh cấp trên phải không?”


Mẹ từng nói với con trai mẹ chiến
tranh không chỉ có trai tráng ra chiến trường đâu trong mỗi chiến sĩ ở cả hai
bên đối nghịch nhau đều có bóng dáng của người mẹ. Chiến đấu hy sinh nói to lớn
là vì Đất nước nhưng theo mẹ trong đó vì cả Mẹ nữa...


Tôi cặm cụi ghi chép.


Có lúc mẹ nói quá nhỏ hoặc quá
nhanh tôi vẫn không có ý kiến bởi theo tôi chỉ cần một tiếng động khe khẽ chen
vào dòng âm thanh mẹ đang phát ra từ tâm can thì... {tôi nghĩ như thế} thì...
mẹ sẽ biến mất...!





Nhà bia tưởng niệm (cuộc
chiến tranh bảo vệ biên
cương phía Bắc Tổ quốc trải dài ở 6 tỉnh Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, Hà
Tuyên,
Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh -H.V) được xây dựng gần khu vực cầu
Khánh Khê, nơi gắn với những chiến công vang dội của Sư đoàn 337 (V.N -
H.V) - Ảnh: Nguyên Phong (TNO)



Khuya nay tôi lại gặp mẹ.


Mà không chỉ có một mình mẹ mà còn
có một bà mẹ thứ hai. Hình như thấy tôi đang phân vân mẹ giới thiệu ngay:


“Cùng tiếp anh bây giờ có mẹ M mẹ
của “kẻ địch” của con mẹ!”


Tôi định thần lấy mắt kiếng ra khỏi
mắt dùng miếng vải nỉ lau sạch hai tròng mắt kính xong đeo trở lại.


Đúng! Mẹ nói đúng! Nhìn vóc dáng và
kiểu ăn bận tôi biết mẹ là người nước tôi.


Tôi nhìn kỹ một chặp mới nói:


“Mẹ là mẹ của...”


“Chiến sĩ”


Mẹ M nhanh nhảu tiếp lời tôi như
vậy.


“Thưa mẹ, con trai mẹ giờ còn trong
quân ngũ?”


“Anh nói sao? Con trai tôi à! ...”


Không như hồi nãy nhanh nhảu giọng
mẹ giờ chùng hẳn:


“... hy sinh tháng Hai năm 1979”


Bất giác như có một luồng không khí
lạnh từ ngoài sân xâm nhập vào nhà toàn thân tôi lạnh toát!.


Cố điềm tĩnh tôi nhìn sang mẹ A {bà
mẹ của phần đầu truyện ngắn nầy} mẹ A hiểu ngay điều tôi muốn hỏi”:


“Thì con trai tôi và con trai bả
đánh nhau trên biên giới năm ấy đó mà!”


“Thưa mẹ con hiểu ra rồi thế giờ
hai mẹ gặp nhau tại đây nơi biên cương để làm gì ạ?”


Lần nầy mẹ M nói:


“Chiến tranh đã lùi xa 35 năm
khoảng thời gian đủ để hai người mẹ chúng tôi nhận ra bao điều...”


“Dạ!”.


Tôi không biết tại sao lại buột
miệng “Dạ!” làm ngắt quãng lời tâm sự của mẹ.


Tôi nói:


“Xin lỗi mẹ!”


“Không sao!. Cái chính là anh cùng
tôi và bà A sáng mai đi tìm thêm một lần nữa hài cốt của hai đứa con!”


“Con của hai mẹ “mất tích”?”


Mẹ A:


“Không rõ nhưng sau trận chiến con
mẹ không trở về. Đơn vị của con mẹ báo “Chiến sĩ Lý... đã hy sinh anh dũng
trong cuộc chiến tranh "Vệ Quốc vĩ đại!”"


Mẹ M:


“Chỉ huy đơn vị của con mẹ ngày ấy
có về tận nhà báo tin con trai mẹ đã anh dũng hy sinh vì Tổ Quốc, cùng địa
phương làm lễ truy điệu rất trang nghiêm trước bàn thờ trước di ảnh con của mẹ!.
Mẹ nhớ lồng trong tiếng nhạc kèn hơi hùng tráng điếu văn nêu rõ con mẹ Lê Nam đã
góp phần to lớn cùng toàn dân giành ‘thắng
lợi rất oanh liệt và toàn diện đánh bại sáu trăm nghìn quân T.Q xâm lược - Thêm
một chiến công hiển hách ghi vào lịch sử chống xâm lược của Dân tộc ta’(2)”


Tôi không ghi thêm được điều gì vội
thức dậy viết truyện ngắn nầy xong trước rạng sáng ngày... tháng 02 năm 2014.


                                                                                                                                                  H.V






---


(1): Ngày 17/2/1979, khởi đầu cuộc chiến tranh bảo vệ biên
cương phía Bắc Tổ quốc trải dài ở 6 tỉnh Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên,
Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh

(2): Chữ in nghiêng trong ‘’: Theo báo Nhân Dân (V.N) số
9030 ngày thứ Ba 20/03/1979


Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

VỌNG HẢI ĐÀI







VỌNG HẢI ĐÀI



Chẳng biết trong lòng ghé những ai

Thềm son từng dội gót vân hài

Hỡi ôi! Người chỉ là du khách

Một phút dừng chân vọng hải đài


 


Cơn gió nào lên có một chiều

Ai ngờ thổi tạt mối tình kiêu

Tháng ngày đi rước tương tư lại

Làm rã chân thành sắp sửa xiêu


 


Trống trải trên đài du khách qua

Mây ngày vơ vẩn, gió đêm là

Muôn đời e hãy còn vương vấn

Một sắc không bờ trên biển xa


 


Lòng xiêu xiêu, hồn nức hương mai

Rạng đông về thức giấc hoa lài

Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận

Chẳng biết xa lòng có nhũng ai?


                                           P.H







-------------------



Ngô Minh






  Viếng
thi sĩ Phạm Hầu    








                                            Mai Văn Hoan, Thanh Tùng và NM trước mộ thi sĩ Phạm Hầu






                    Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận






                 
 Chẳng biết xa lòng có những ai ?






  
                          (Vọng
Hải Đài- Phạm Hầu)






 







Góc nhân gian u hoài ai biết







Thi sĩ nằm như lá như sương







Chuông chùa Vạn Phước hằng đêm gọi







70 năm người lạc chốn xa lòng







 







Tôi men khói hương tìm viếng mộ







Chén rượu còn đủ ấm tái tê ?







Người ơi người khôn thiêng có biết







Câu thơ xưa còn ấm cõi đi về







 







Thi sĩ lạc loài như nước mắt







biền biệt quê hương mưa Huế gọi buồn







Trong đày ải mình trần tê ngọn lửa

Tiệc chim bằng rỉa rói một lòng đơn (*)







 







Câu thơ sóng vỗ ngoài vô tận







Ươm cây đời đơm lộc giữa tim xanh







Người xa lòng làm sao quên được







Vẫn gọi về muôn vạn tri âm…







 
                               
Huế, Xuân Giáp Ngọ, 2014







---------------







  (*):
Thơ Phạm Hầu



* Theo Blog ngominh 



 --------------



Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Phạm Hầu (2 tháng 3 năm 1920 – 3 tháng 1 năm 1944) hay Phạm Hữu Hầu (tên ghi trong gia phả) là nhà thơ tiền chiến Việt Nam sinh ở Gò Nổi, làng
Trừng Giang, (nay thôn Hòa Giang, xã Điện Trung – H.V ghi thêm), huyện Điện
Bàn
, tỉnh Quảng Nam.

Ông là con Tiến sĩ Phạm Liệu, người đứng đầu nhóm Ngũ Phụng Tề Phi, từng làm quan trải đến chức Tổng
đốc Nghệ
An
rồi Thượng thư Bộ binh dưới các triều vua Thành
Thái
, Duy
Tân
, Khải ĐịnhBảo
Đại
. Mẹ ông là bà Lê Thị Giảng, người Thanh Hoá.



Lúc nhỏ, ông học trường Quốc Học Huế, sau
ra Hà Nội học tại trường Mỹ thuật Đông Dương (nay là Đại học Mỹ thuật Việt Nam).



Do mắc chứng bệnh động kinh, ông nằm điều trị tại nhà thương Vôi ở Bắc
Giang
một thời gian rồi được chuyển về quê nhà, nhưng khi tàu hỏa đến đoạn Đồng Hới (Quảng
Bình
) - Huế,
thì ông mất, hưởng dương 24 tuổi. Hôm ấy, là ngày 3 tháng
1
năm 1944.



Kể về chuyến trở về của Phạm Hầu, sách Việt Nam thi nhân tiền chiến
(Quyển 2) viết: (Phát giác ông mất), người soát vé bắt buộc người thân đi
theo phải đem xác ông xuống ga Truồi (Huế). Từ nơi đó,
người nhà thuê thuyền đưa ông về Huế rồi an táng trên một đồi nhỏ, sau một ngôi
chùa cổ ở vùng Nam Giao. Và để tiễn biệt một linh hồn cô đơn đi vào nơi yên
nghỉ cuối cùng, người ta chỉ nghe đôi câu kinh, vài tiếng thút thít trong một
chiều mưa gió thê lương...
[1]



Theo Việt Nam thi nhân tiền chiến (Quyển 2), về hội họa, ông đã được
tặng thưởng trong kỳ triển lãm hội họa tại Tokyo (Nhật
Bản
); về thơ, ông làm không nhiều (vỏn vẹn chỉ có khoảng 20 bài), thường
đăng thơ trên các tạp chí Tao Đàn, Mùa gặt mới, Bạn đường...[1]



Năm 2001, nhà
xuất bản Thanh Niên đã cho xuất bản thơ ông, tập thơ có tên Vẫy ngoài vô tận
do Hoàng Minh Nhân biên soạn.





Quan niệm nghệ thuật


Trích bài viết của Phạm Hầu, được dẫn lại trong Việt Nam thi nhân tiền
chiến
(Quyển 2):

“Nếu một họa sĩ vẽ cô gái đẹp ấy y như thật, thì chỉ là thợ truyền thần giỏi
mà thôi. Vì nhà truyền thần kia đi theo cảnh vật, làm nô lệ cảnh vật. Họ không
phải là một nhà tư tưởng, một nhà sáng tạo. Mà trong địa hạt nghệ thuật, chỉ có
sáng tạo mới là cái đẹp chân chính”.

“Cái quan niệm cho Nghệ thuật là một trò chơi không thể được nữa. Nhà nghệ
sĩ không phải là một đứa trẻ vô tư trong trò chơi. Nghệ sĩ không thể không đau
khổ, nhưng cái đau khổ ấy không phải là một thất vọng. Bởi đấy chính là một
công việc giải phẫu mà nghệ sĩ phải chịu để cho ra đời một tác phẩm”.





Trích trong Thi nhân Việt Nam:


“...Ở đời có những người nói to
bước vững. Phạm Hầu quyết không phải trong hạng ấy. Ở giữa đời Phạm Hầu là một
cái bóng, chân đi không để dấu trên đường đi. Người còn mải sống với mình và
con người ta tưởng không có gì là một người giàu vô vạn. Lòng người là một vọng
hải đài, người chỉ việc đứng trên đài lòng mà ngắm: "Qua lại thiếu gì mây
sớm gió chiều...”

Trích trong Việt Nam thi nhân tiền chiến (Quyển 2):


“Có thể nói, Phạm Hầu là hình
ảnh kết tinh của một tâm hồn thơ và lòng yêu chuộng nghệ thuật. Tuy thơ ông rất
ít, nhưng không thể lấy số lượng đánh giá trị thi nhân...Vì bài nào của ông
cũng đều có một chiều sâu và chứa đựng một triết lý nhân sinh.


...Là một nghệ sĩ, tâm hồn ông
thường hay rung cảm một cách bén nhạy...Mới chỉ trong cái tuổi đôi mươi mà ông
đã quyết định mang theo bên mình một hoài bảo to lớn. Đấy là một cứu cánh toàn
hảo, một tuyệt đích tình yêu, một tột cùng của nghệ thuật; nói gọn, đấy là cái
Chân, Thiện, Mỹ vậy. Và có lẽ ít có người nghệ sĩ nào quá trân trọng bóng thiều
quang như ông. Với ông, thời gian của kiếp đời mình cũng như vò nước. Từng
giọt, từng giọt nhỏ dần…cho nên thi nhân không dám phung phí, luôn tự thúc giục
mình trong công việc sáng tạo, để có thể lưu lại một cái gì trước tuổi 30.

BÀI XEM NHIỀU