Truyện ngắn, Truyện cực ngắn, Tạp văn, Thơ, Bạn văn, Nhạc, Tranh ảnh, VĂN HỌC NGHỆ THUẬT, Truyện dài

Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2023

HÒA VĂN: BÕ

 


𝚃𝚛ó𝚝 𝚕ỡ 𝚜𝚊𝚗𝚑 𝚛𝚊 𝚝𝚛ê𝚗 𝚌õ𝚒 𝚙𝚑à𝚖

𝚁á𝚗𝚐 𝚗í𝚞 𝚌𝚑ú𝚝 𝚕ò𝚗𝚐 𝚌𝚑𝚘 𝚋õ 𝚌𝚊𝚖
𝙷ỏ𝚒 𝚝â𝚖 𝚝â𝚖 𝚑ỏ𝚒 𝚊𝚗 𝚗𝚑𝚒ê𝚗 𝚝𝚘ạ𝚒
𝙱𝚒ế𝚝 𝚍ẫ𝚞 𝚍ở 𝚑𝚊𝚢 𝚌ứ 𝚟ậ𝚢 𝚕à𝚖!.

𝙷ò𝚊 𝚅ă𝚗

Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2023

Truyện ngắn Hòa Văn: 🅲🅷🅸Ế🅲 🅻Á

 


Tặng anh Đỗ Cao Thiên


TẨN ngồi thẫn người trên sân thượng trước bông hoa mới vẽ xong, bông hoa màu đồng nội còn đẫm ướt sương mai không biết bao lâu rồi, có lẽ nửa đêm hay chậm hơn một chút. Nhưng sớm hay muộn bây giờ không quan trọng khi bông hoa tâm tưởng đã nở rồi. 

Tẩn nhớ mỗi độ tết đến xuân về, hồi tóc còn để chỏm thường lon ton chạy theo mẹ về Gò Nổi thăm ngoại. Nhiều lúc bị mẹ la cũng chỉ vì mải tần ngần đứng ngắm nhìn những bông hoa cỏ dại nhỏ xíu đủ màu sắc rực rỡ nở thắm ven đường quê, khi ấy hồn vía ở đâu đâu đến nỗi quên lửng đang đi với mẹ.

- Đi… đi… kẻo nắng tới nơi rồi! - Mẹ mắng yêu, rồi nắm tay kéo đi như chạy.

Gò Nổi đẹp và nổi tiếng là đất học có nhiều danh nhân như Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu, Trần Cao Vân… Biết các cụ qua lời kể trầm trầm của ông ngoại khi mới học lớp ba trường làng và cứ mỗi lần như thế Tẩn ước muốn sau này sẽ vẽ một bức tranh cỡ lớn về các loài hoa đồng nội để tặng quê hương và tặng các danh nhân. Trong đó, có một đóa hoa riêng tặng các bà mẹ sinh ra các bậc danh nhân. Thế mà từ khi thành họa sĩ ít nhiều tiếng tăm ở đất Sài Gòn, Tẩn không vẽ được một bông hoa đồng nội nào ra hồn. Có bông đẹp lộng lẫy thì giống hoa hồng, nhiều bông vẽ xấu hơn bất kể hoa nào từng thấy, nên lòng ray rứt mãi… 

Tẩn nhất quyết đóng cửa ở nhà vẽ. Tẩn nói với Ngân - bạn thân cũng là họa sĩ - sẽ không ra khỏi nhà, không gặp một ai nữa nếu không vẽ được bức tranh độc hoa đồng nội. Đêm qua Tẩn vẽ được bức độc hoa, rồi mở tung cửa nhà đón chào đất trời phơi phới vào xuân. Người đầu tiên thưởng thức bức độc hoa là Ngân khi cô mang cho Tẩn cà mèn phở, kèm theo tách cà phê.

- Tẩn ơi! Tẩn ơi! Ngân gọi và thấy hơi lạ vì mấy bữa trước có khi phải đập cửa thình thình Tẩn mới ú ớ ra mở cửa, thế mà sáng nay cửa ngõ mở toang như đêm hôm có trộm. Ngân lên thẳng tầng hai, ra sân thượng và ngẩn ngơ trước đóa hoa đồng nội đang nở rộ, Ngân bước tới định lấy tay đỡ… Tẩn hét lớn: “Đừng chạm vào, đấy là đóa hoa trong tâm tưởng, mình đã vẽ được rồi…”.


Sau đó, sân thượng nhà Tẩn trở thành nơi rất nhiều người đến thưởng lãm tranh. Ai cũng khen hoa rất đẹp nhưng có điều gì đó lòng bất an. Tẩn vẽ thêm một bông nữa, rồi thêm một bông nữa, một bông nữa… Cứ vẽ thêm như thế, không những bức tranh hoa ngày càng xấu hơn mà còn cảm thấy thêm bất an. Tẩn nằm rã rượi, chẳng nói, chẳng rằng. 

Ngày tháng trôi qua, bức tranh ngàn hoa đồng nội cũ kỹ, người thưởng lãm thưa dần rồi chẳng còn ai đoái hoài. Nếu như ngày vẽ xong đóa độc hoa đồng nội Tẩn nổi tiếng chừng nào thì bức tranh vẽ thêm ngàn hoa lại nhận chìm hồn phách Tẩn chừng ấy. Sài Gòn không nói làm gì, bởi chốn phồn hoa nổi tiếng đấy rồi lại vô danh tiểu tốt đấy! Khốn nỗi, ở quê bông hoa đồng nội được Tẩn sinh nở trên bức tranh độc hoa ấy, bà con làng xóm lúc tỏ tường cớ sự lại tỏ ra khinh miệt. Có người còn đặt câu hát “Đất có trời, Gò Nổi có Tẩn người “hỏa si”.

Mỗi ngày thức dậy trong nỗi ám ảnh hoa đồng nội, Tẩn điện về cho bạn cũ ở quê gửi vào hàng ngàn bông hoa đồng nội khác, để mỗi ngày ngắm một chiếc rồi đặt thêm một tên mới như bông chuối nước trở thành hoa lửa, bông bìm bìm  là hoa nhớ. Ngắm xong, đặt tên xong, vẽ, càng vẽ càng giống như  “quỷ sa” không hơn không kém. Ngân gợi ý: “Chẳng lẽ suốt đời Tẩn mang nỗi buồn không vẽ được hoa đồng nội mãi hay sao?”. “Dễ đúng như vậy”. “Hoa cũng như người, ai bội bạc quên nghĩa quên tình, cả đời dù có làm gì, ở đâu, sống như chết!”.

“Hay là Ngân cùng về quê nội, quê ngoại của mình một lần, thăm lại nơi một thời tóc để chỏm, đi học trường làng, có những đứa bạn hiền như đất, chỉ biết rong chơi với cỏ hoa đồng nội. À, có một loại bông cỏ gà, tụi mình hễ bắt gặp được thì mừng vô kể, xúm nhau hái, sau đó cùng chơi trò chọi gà”. Tẩn kể một mạch, Ngân ngồi chon hỏn nghe chẳng hiểu gì, bởi quê Ngân ở miệt sông nước Nam Bộ nên làm gì có loại bông cỏ Tẩn nói đâu. Tẩn như hiểu ra, cười cười: “Không hiểu phải không, ví dụ này…”. Hai tay cầm hai cây cọ vẽ còn nhèm nhèm phẩm màu Tẩn giải thích rằng cây cỏ gà trổ trên đầu chồi non một chùm lá như thế này… Mỗi đứa một bông cỏ quất mạnh vào nhau, bông cỏ đứa nào đứt lìa cọng cỏ là thua. Ngân ậm ừ: “Mà bao giờ đi?”. “Đi ngay thôi!”.

Bây giờ trở lại Sài Gòn, Tẩn còn nhớ mãi lời tâm sự từ những người bạn cũ thân thiết sống ở quê, theo đó bức tranh ngàn hoa đồng nội của Tẩn nên vẽ thêm những chiếc lá vàng ở phần nền cuối của bức tranh. Không có sự sống nào không tàn lụi theo thời gian, song hồn của sự sống nếu được đặt đúng chỗ sẽ sống dậy và sống mãi…

Đứng trước bức tranh tay cầm cây cọ, tay bưng đĩa màu còn lại sền sệt, đăm chiêu suy nghĩ, hình như có ai đó nắm lấy tay Tẩn nâng lên… Tẩn vẽ những chiếc lá vàng. Bức tranh bỗng sáng rực rỡ. Hay tin Tẩn từ quê trở lại thành phố bạn bè tới thăm và ngạc nhiên trước bức tranh cũ bây giờ tươi tắn, hồi sinh. Bức tranh ấy có tên Chiếc lá.

HÒA VĂN 

Thứ Năm, 16 tháng 11, 2023

NGUYỄN ĐỐC: Thôi có lẽ đời ơi xin giã biệt

 


Gặp anh mến anh ở tài tâm và tính thẳng thắng của anh. Nhiều bài thơ bộc trực bỡn cợt thâm thúy ngay cả chính anh. Anh đã giã biệt ngày 16/11/2023 (4/10/Quý Mão)
Xin chia buồn cùng gia quyến!

Tiễn NGUYỄN ĐỐC

Ừ này trở lại cõi Người(*)
Bỏ con Chó (**) nhớ buồn vui một đời
Tiễn nhau câu thiệt tuyệt vời
Thôi thôi... "Không tiếc cái nơi tạm mà!".

16/11/2023
(4/10/Quý Mão)

Hòa Văn
-----
Chú thích
(*): Cõi chỉ có khi sống đúng khi mất mới tới
(**):
"... Ta không phải là cơn gió
Nóng lạnh tùy theo mùa
Ta chỉ là con chó
Khi chạnh lòng hay sủa bâng quơ
...
Nguyễn Đốc

THƠ NHÀ THƠ NGUYỄN ĐỐC 

THÔI CÓ LẼ ĐỜI ƠI XIN GIÃ BIỆT


Thôi có lẽ đời ơi xin giã biệt

Biển ngoài kia đã réo gọi ta rồi
Có nấn ná cùng bước đời trầy trật
Khi triều lên thuyền cũng phải dong khơi

Ta từng xót, từng đau, từng tha thiết
Trần gian ơi chưa kịp cảm ơn người
Mỗi ngọn sóng khơi thêm mầm ly biệt
Mỗi ngày tàn đâu hẹn một đêm vui

Ta vốn dĩ là một tay cà chớn
Yêu trần gian cạn kiệt máu tim mình
Rồi một sớm bổng nhiên bừng tỉnh dậy
Thấy loài người đang trở dạ yêu tinh.


(9/6/2023)



SOI GƯƠNG

Có phải nụ cười dễ tìm gặp đâu anh
Năm tháng cày những vết hằn trên trán,
dũa mòn từng đốt xương
Mục đích con người:
Sống và yêu thương
Nhưng thù hận như bóng đêm
rình rập

Chúng mình gặp nhau sau bao lần thoát chết
Sao nụ cười chỉ thoáng qua môi !
Cái gì đã chen giữa tình bạn tình đời
Cái gì làm nhoà một thời thơ ấu

Có phải nụ cười dễ đâu tìm thấy
Trên môi anh và trên môi tôi !?
Chúng ta bây giờ đã quá bốn mươi
Tôi vẫn ngỡ mình còn non dại
Muốn nói hết nỗi lòng với anh
Mà cứ ngại
Hai mươi năm con người có đổi thay
(Những con người nếm mật nằm gai
Cái gian khổ thường đổi bằng kiêu hảnh )

Suốt đời tôi là chuỗi dài bất hạnh
Tìm kiếm nụ cười trên khuôn mặt người thân
Tìm kiếm nụ cười ở bè bạn anh em
Nhưng chỉ thấy mơ hồ như bóng khói

Có phải nụ cười dễ tìm gặp đâu anh
Năm tháng điểm sương từng sợi tóc
Cái nghèo đói giống như con ốc
Bò trong đời như trên cộng sen

Quá nửa đời tôi vẫn chưa quen
Những điều bất công,những điều giả dối
Và giận
mình không là con rối
múa may quay cuồng theo ngọn gió xoay

Bây giờ tôi chỉ là mũi gai
quay đầu nhọn tự đâm vào da thịt
Máu đã rỉ mà mình không biết
Nên cơn đau thấm dần

Nói nhỏ điều này với anh
Bốn mươi tuổi hỏi ai còn ảo tưởng
Sau lưng chúng ta bao bạn bè nằm xuống
Trong chúng ta được mấy đứa hiển vinh ?

Trố mắt trông gương tìm kiếm bóng mình
Không còn thấy
Những ngày Hội An
Những đêm Thừa Phủ
Mà chợt thấy một con sói dữ
Nhe nanh gầm gừ.


(1975)

Dường như xuân còn nuối


Ngồi đọc thơ thiên hạ
Dường như đầy ắp xuân
Lật thơ mình đọc lại
Đầy xót xa và buồn

Con bệnh cứ vật vã
Cắn răng chịu với đời
Vợ con nhìn cứ tưởng
Mình là đứa ham chơi

Ly rượu xuân đắng ngắt
Vẫn nâng chúc mừng nhau
Sống trọn hay không trọn
Càng nghĩ càng thấm đau

Bước cho đời mấy bước
Cho mình được bước nào
Chết trôi về mấy cõi?
Mà sống là chiêm bao !

Đầu năm không muốn khóc
Sao nước mắt chảy dài
Buồn vui thì vẫn vậy
Ai nào biết cho ai

Ngày xuân nghe cái lạnh
Thấm vào từng đốt xương
Phải trái tim khốn khổ
Nhịp đập đã thất thường !

Ngồi đọc thơ thiên hạ
Mưa rây nhẹ mái nhà
Dường như Xuân còn nuối
Những ngày đông đã xa.


2021

Thứ Tư, 1 tháng 11, 2023

Hòa Văn: 25 Truyện cực ngắn






1. GIÁ NHƯ...


   NGƯỜI XỨ QUẢNG TRUYỀN TỤNG MỘT CHUYỆN.

   RẰNG XƯA ĐẠI QUAN HỌ HOÀNG CẢ ĐỜI HẾT LÒNG VÌ NƯỚC VÌ DÂN, KHI TỔ QUỐC AN VUI THÌ LIÊM CHÍNH, NGUY NAN THÌ HY SINH ĐỂ LẠI   TIẾNG THƠM MUÔN THUỞ.

   Sinh thời bà mẹ(*) Đại quan một mực thương yêu chồng con, sớm hôm tần tảo hái dâu nuôi tằm, làm ruộng ngay tại quê nhà. 

Vốn chất phát nhân hậu bà từng căn dặn con cái lúc nhỏ lo học hành, lớn lên có làm gì cũng phải giữ đạo nhà phép nước, sống giản dị. Khi nhậm chức quan bà căn dặn Đại quan phải liêm khiết, làm điều ích nước lợi dân. Đó là hiếu là thảo với mẹ với cha.


   Một hôm Đại quan họ Hoàng gởi về kính tặng mẹ một tấm áo bằng lụa để tỏ lòng hiếu thảo.

Cầm áo vải óng mượt đẹp chưa từng thấy dù đây là sản phẩm có một phần công sức của người nông dân dãi dầu mưa nắng như bà góp phần làm ra nó, bà trầm ngâm suy nghĩ rồi lụi bụi xách dao bầu ra biền chặt một cây roi dâu cuộn tròn lại gói chung với áo lụa nhờ người mang đến đem trở về trả lại cho con.

   Đại quan họ Hoàng nhận lại tấm áo trong đó có cái roi dâu hiểu ngay lời của mẹ gởi gắm...


   Ngày nay, giá như... 

   Giá như!.


(*): Đây là người mẹ Gò Nổi- Điện Bàn, Quảng Nam thân mẫu của cụ Hòang Diệu.


2. VƠI  


   Ngày thường sống với đứa cháu nội lên mười, ba ngày tết nhà lão Vy có thêm vợ chồng hai đứa con trai, vợ chồng đứa con gái bởi vậy không khí gia đình vui hẳn lên.


   Tự nhiên đang ngồi quây quần chuyện trò vui vẻ lão Vy buột miệng: “Bao giờ trở lại... “Tết xưa!””.


   Con trai; con gái; dâu; rể lặng lẽ nhìn cha. Bảy đứa cháu ngoại; cháu nội ở xa về nhìn nhau... lặng im.


   Đứa cháu nội lên mười thưa: “Con thấy trong tủ lạnh, rồi trên các tủ gỗ quanh nhà bếp nhà mình quá trời đồ ăn thức uống. Còn như nhà bà A gần bên con nghe nói hộ nghèo mà tết đến bà sắm lũ  củ nào là thịt heo bánh tráng, kẹo mức mà ông?. Chẳng lẽ tết ngày xưa giàu hơn hở ông nội?”.


   Nhìn ra sân... Nắng xuân trải sắc vàng rực rỡ trên từng bông mai, bông cúc đang nở rộ... Xuân về Tết tới đúng chu kỳ thiên nhiên, vật chất mỗi năm mỗi thêm lên nhưng cứ thấy thiếu thiếu điều gì...  


   Lão Vy uống thêm ngụm trà ngồi ngẫm nghĩ... "Nét đẹp ngày tết... vơi dần!".


3. ÔNG TRUNG TRUNG


   Hồi nhỏ tới tết tôi ưng nhất là được lì xì. Được lì xì năm đồng, mười đồng, có khi là cây kẹo, cái bánh... cũng vui thôi chứ chẳng nghĩ nhiều ít!.  


   Giờ khi đã “thất thập cổ lai hy” tôi thấy trẻ con cũng ưng lì xì mà lì xì nhiều mới thích!.  


   Bởi vậy hôm đến thăm một ông bạn, nhà đang có cậu em út dẫn theo đứa con gái lên mười đang trò chuyện tết...


   Đứa bé lên mười vừa hớn hở săm se các bao lì xì vừa nói rành rọt:


   - Cái ni của ông lớn nề! Cái ni của ông nhỏ nề!


   Thấy tôi không hiểu chị vợ ông bạn giải thích “Nó nói ông lớn là ông lì xì cho nó năm chục ngàn đồng, ông nhỏ là lì xì chỉ có năm ngàn đồng, còn lại là ông trung trung!”.


4. CỔ LỖ XỈ!


   Chiều hai mươi chín tết tôi đến nhà sách Sơn Hải ở thị trấn V. tìm mua một cây bút lông loại ngày xa xưa các ông thầy đồ dùng viết chữ Nho.


   Tiếp tôi là cô gái khoảng mười bảy; mười tám tuổi khá xinh cô đang học hành ở xa nay về ăn tết.


   Tôi nói: “Bán cho ông cây bút viết chữ Nho”


   Tỏ vẻ ngạc nhiên cô đáp: “Bi giờ làm chi có loại bút “Cổ lỗ xỉ” ấy!”


   Tôi chưa kịp nói câu nào với cô bé thì chị chủ nhà sách bước nhanh tới và nói: “Dạ!. Dạ có!”.


   Trả tiền xong tôi cảm ơn chủ nhà sách và suy nghĩ... “Cổ lỗ xỉ!”?.


5. “???” 1


 


   Đám trẻ lên năm lên bảy xúm nhau lại giả bộ chơi trò “vợ chồng”.


   Cu Lỳ đứng chống nạnh nói:  


   “Nhỏ Xíu! Làm gì có tiền?”


   Thực ra Nhỏ Xíu đang cầm mấy cái lá mít.


   Nhỏ Xíu lí nhí:  


   “Dạ thưa! Dạ thưa của anh Vuông cho ạ!”


   Cu Lỳ:  


   “My không nghe xóm bảo Vuông là tay chuyên cắp vặt à!”


   Nhỏ Xíu:  


   “Nghe! Có nghe nhưng ảnh hay cho kẹo con mà!”


   Cu Lỳ cười te toét bảo:  


   “Ừ hỉ! Thằng ngó rứa mà biết “điều”


   Tôi hỏi:


   “Tại răng biết “điều”?”


   Cu Lỳ:


   “Còn hơn “ăn cắp” rồi cất kỹ!”.


    “???”


 


6. “???” 2  


   Chơi trò “vợ chồng” chán đám trẻ chơi trò “thầy trò”.


   Cu Lỳ đóng vai người thầy mặt đăm chiêu hỏi:


   “Mấy trò về sau ưng làm việc chi nhất?”


   Đám trẻ ngồi lặng im.  


   Nhỏ Xíu thưa:


   “Không làm mà có nhiều tiền!”


    “???”.


 


 


7. MANH MÚN


   NGƯỜI NÔNG DÂN VỚI THỬA RUỘNG NGƯỜI CÔNG NHÂN VỚI XÍ NGHIỆP TẤT CẢ KHÔNG GÌ KHÁC NGOÀI VIỆC PHẢI LÀM RA CÁI ĂN CÁI ĐỂ.

Từ hàng ngàn năm qua dù so với trước có nhiều thay đổi cảnh cơ hàn đói cơm lạt mắm không còn đại trà... nói thế không phải đã tốt đẹp cả!.

   Cái không ấy là manh mún. Chuyện đèn ai nấy rạng, ưng tranh phần hơn về mình, chuyện... , chuyện... nhiều khi vì tránh đi điều mắc lòng mắc bồi mà ít ai nói thiệt.

   Manh mún thửa ruộng, cái máy móc... có thể là thường tình, manh mún trong suy nghĩ hành động thật đáng ngại!.

   Manh mún...


8. DỎM


   DỎM TỨC LÀ KHÔNG THIỆT. BIẾT THẾ NHƯNG CỨ THẮC MẮC!. Hồi còn nhỏ cu Su thường chau mặt khi ai nói nó dỏm lớn lên đi làm lúc đầu anh Su cũng khó chịu khi ai đó nói anh làm điều gì đó không thiệt... Bây giờ khác rồi hình như anh thích nghi với nhiều "chuyện thường ngày ở huyện"!.

   Mẹ anh Su tuổi trên chín mươi tuy có lọm khọm trong đi lại song minh mẫn lắm.

   Bà hỏi:

   "Răng càng ngày con sống khác xưa nhiều?"

   Anh Su:

   "Dạ! Mẹ ở nhà nên không rõ thôi con còn "tử tế" chán!"

   Ý anh giờ đi đâu làm gì cũng gặp "dỏm": Người có người dỏm đồ vật có đồ vật dỏm không biết đâu mà lần... đến như sẽ có mẹ dỏm tức là các bà mẹ làm một công việc hết sức "đạo đức, nhân văn, thiêng chức" đẻ hộ!.

   Câu thơ "... như là có một mẹ thôi" từng xao xuyến bao người con còn hay đi vào dĩ vãng!.


9. ĐÁM MA KIẾN


   MỘT ĐÀN KIẾN DÀI NGOẰN ĐI THEO SAU MỘT ĐÁM MA CON KIẾN. 

   Không rõ lý do chết chỉ biết cả nhà kiến ai nấy cũng tỏ vẻ thành kính và thương tiếc lắm!. 

   Bốn chú kiến kẻ trước người sau khiêng kiến chết đi chầm chậm.

   Cu Cơm nói:

   "Mẹ thấy hông kiến cũng biết thương kiến!"

   Mẹ cu Cơm:

   "Sao con nghĩ vậy?"

   "Dạ! Dạ tại con thấy đang đưa kiến chết đi chôn nhiều con kiến chụm đầu lại y hồi ngoại chết mẹ và dì Út ôm nhau khóc mẹ không nhớ hãy!"

   Không để mẹ trả lời cu Cơm nói tiếp:

   "Mẹ há đến con kiến còn biết thương nhau mà sao con người lại ganh ghét nhau giết chết nhau... 

   A! con nhớ rồi vì tiền phải không mẹ?"

   Mẹ:

   "Tại sao con lại nghĩ vậy?"

   "Dạ con nghe truyền hình hôm qua nói vì muốn có mấy trăm triệu ai đó bắt và dọa giết hai người...!".

   Mẹ!!!.


10. CÁI MÂM


   CỨ NGỒI VÔ ĂN NHÀ ÔNG M KHÔNG CHUYỆN NÀY THÌ CHUYỆN NỌ NÊN MƯỜI BỮA NHƯ CHỤC không khí như đang ở chảo lửa nó nóng hừng hực. Cả năm người vừa vợ chồng con cái và thêm đứa cháu nội lên chín đều buồn phần ai nấy ăn...

   Phải như nhà bà Bay bên cạnh thiếu trước hụt sau như thế cho cam đàng này nhà ông M qua thời ăn tro mò trấu nay nhà cửa khang trang, con cái có công ăn việc làm hẳn hoi lại toàn việc hái ra tiền đống tiền khối...  


   Cha ăn mặn con khát nước đời hay soi mói thế chưa kiểm chứng nhưng hồi ông M còn chức quyền nay chức quyền kế thừa cho con thì việc ăn nên làm ra là chuyện khỏi phải bàn chỉ có tại sao dư dã thế giàu có thế... bữa ăn nào cũng cá thịt thừa mứa thế mà cơm không lành canh không ngọt thì có trời mới tỏ!.  


   Ông M:  


   "Hắt quách cái mâm!".  


   Ông nói trong hơi thở hổn hển.  


   Đứa con trai:  


   "Đâu phải tại nó mà hắt!".  


   Cô con dâu: "Chẳng lẽ tại con cá!".  


   Bà M im thin thít đỏ hoe đôi mắt vốn đã lão hoá vừa đục thuỷ tinh thể.  


   Đứa cháu nội lên chín sè sẹ bỏ chén đũa xuống mâm rồi thưa:  


   "Theo con tại những người ngồi quanh mâm cơm ạ!".  


   Ra đường nghe bà già về nhà nghe con nít!.  


11. HẾT BUỒN!


ĐỌC MỘT TRUYỆN CỰC NGẮN TRÊN FACBOOOK CÓ TÊN "BUỒN... ẢO" MÌNH LẠI BUỒN THẬT.  


   Té ra trên mạng hàng tỉ người yêu thương nhau như thế có không ít người chỉ "yêu" chót lưỡi đầu môi...

   Ông Mark Zuckerberg một hôm đọc thấy những stt của họ bèn com...

   "Nếu hay tin ông chủ của Fb lụn bại bạn có ý tưởng gì giúp ổng vực dậy để trang "yêu thuơng có cánh" sống không?"

   „Hi hi... Xin thành thật chia buồn..."

   Mark Zuckerberg:

   "TKS bạn!. Tài khoản của bạn đã khóa. Lý do fb không bao giờ lụn bại vì luôn có hàng tỉ người yêu thương nhau thiệt tình!".

Mình hết buồn.

 

 

 12 . HÃY TỰ CỨU!


   MỘT HÔM ĐỘT NHIÊN MẠNG FACEBOOK Ở NUỚC X TẮT NGẤM KHÔNG PHẢI DO SỰ CỐ...

   Người người chạy hết ra khỏi nhà (nhà bank, nhà ở, nhà làm việc...), tất cả xe cộ dừng lại kéo còi...

   Có ông lão khoảng trên tám mươi tuổi chạy như điên trên đường giơ hai tay giơ lên caomiệng kêu "Trời!".

   Trời phán:

   "Các người không nhớ ah!: Hãy tự cứu!".


(26 tháng 012015 – Truyện cực ngắn Hãy tự cứu viết ngẫu nhiên trước một ngày, 27 tháng 012015 Facebook bị sập toàn mạng, 1 giờ sau mới truy cập lại được)  


  HÒA VĂN


Vẫn chưa đầy đủ! 


Tôi và chồng cả hai là... 


Mâm cơm của tôi ngày hai bữa ít nhất phải có ba món, thứ nhất món canh: canh cá chua hoặc ngọt hoặc canh xương hầm... khoai tây, cà rốt..., khoản giữa là rau sống và cuối cùng là món cá hoặc thịt hoặc các loại rau củ xào, trộn... dĩ nhiên bữa tối phải có bia hoặc rượu ngon. Vậy mà “ba mấy đứa” luôn nói như thế là vẫn chưa đầy đủ!. “Nếu đúng bài khoa học em phải cân đong thật chính xác số lượng thực phẩm dùng mỗi bữa để đảm bảo hàm lượng calo cho cả bốn người.”. (Ý ông có hai đứa con). 


Tôi thì liệu cơm gắp mắm, thời buổi nầy lo được từng bữa ăn cho gia đình như vậy đâu dễ?. 


Một hôm sang bà nhà kế bên (Thực ra cô ta mới khoảng trên bốn mấy tuổi mà già khọm nên ai cũng gọi “bà”) gặp bữa ăn tối tôi thấy hai vợ chồng ba đứa con ngồi quây quanh mâm cơm chẳng có gì ngoài rau và mắm dở (*). 


Cả nhà nhìn tôi ái ngại. Bà nói: “Bạn tui làm ruộng kiểu ni (**) cơm cũng sẽ thiếu chứ đừng nói cá với thịt!.”. 


Tôi..../. 

-----

- (*): loại hai.

- (**): Ý nói mất mùa và giá cả phân bón – nông sản bất hợp lý.


 


Nhỏ và lớn 


Cu Tỉn hồi học mẫu giáo rồi lên những năm đầu bậc Tiểu học ngoan lắm. 


Công đầu phải nói là thầy cô giáo thứ đến có sự gia công bày vẽ của ông bà cha mẹ…


Đi học hay làm bất cứ chuyện gì cu cậu đều nhất nhất thưa và trình một cách trịnh trọng đúng là được ”học lễ” khá bài bản. Ông nội thường khoe với mọi người “Thằng cháu nội đích tôn tôi đó!”. Mỗi lần như vậy người nghe gật đầu đồng ý và hiểu ý ông “Cháu nội tôi giỏi và ngoan!”. Riêng ông không nói ra nhưng ai cũng biết ông vui lắm!.


Cũng cu Tỉn. Khi lớn lên học những năm cuối bậc Tiểu học rồi bây giờ lớn tồng ngồng sắp sửa đi thi Đại học lại khác một trời một vực…


Hay nói rõ nếu khi xưa ngoan và là niềm vui niềm hãnh diện của cả nhà chừng nào nay buồn bực chừng nấy.


Cu cậu trở tính trở nết ai cũng ta thán!.


Ông nội giờ không dám nhắc đến tên cháu nội trước đám đông, với bạn bè…./.


Nhỏ và lớn thật là…


 


Chiếc tủ lạnh và chiếc xe! 


Anh phóng viên người Nhật khi được tôi “phỏng vấn”: “Xin anh nhận xét sự khác nhau giữa cách bày biện ở trong hai ngôi nhà Nhật và Việt?”.


Trầm ngâm chặp lâu anh phóng viên nói thiệt tình: “Khác lắm lắm... Ở Nhật nơi đẹp nhất trong nhà được làm nơi để tủ sách hoặc kệ sách kế đến là tủ sắp đặt bình tách, chén uống trà, rồi mới đến các thiết bị phục vụ nhu cầu khác... 


Còn ở Việt tôi đi nhiều hầu như đa phần ít thấy tủ hoặc kệ sách, thay vào đó người chỉ có điều kiện chút xíu là sắm xe cộ - xe máy hoặc xe hơi (Chỉ sự đi lại) tiếp sau là tủ lạnh (Chỉ sự ăn uống).


Không biết mức độ trúng trật của nhận xét như vậy được bao nhiêu phần trăm trong phạm vi cả nước nhưng điều nầy là có thật ở nơi tôi đang ở. 


Vào một quán net 100% người có mặt đang dán mắt vào game hoặc đọc báo mạng lâm ly tình cảm “trăng” với “sao”... Thi thoảng mới có người đọc văn đọc thơ...


Ơi chiếc tủ lạnh và chiếc xe!./.


 


Mẹ và con Meo 


Thuở hồng hoang Meo là “người” hoạt động “nghệ thuật”. Nói cho có văn vẻ to tát thế chứ “chị ta” chỉ có nhiệm vụ ghi ghi chép chép đôi điều mắt thấy tai nghe nơi “cộng đồng”.


Đời lúc nào cũng thế!. “Chín người mười ý”, “Không ai chịu ai” bởi vậy dẫu “truyện” “chị ta” viết đúng 100% vẫn có “người” chê bai do vậy “Nhiều thương thì lắm ghét”.


Meo ăn phải “bả độc” suýt bỏ mạng may nhờ có ông thi sĩ họ Đất ra tay cứu. Thoát cái chết trong gang tấc nhưng di chứng “giờ không nói được” chỉ meo meo...


Suốt mấy ngày đêm “mẹ Meo” bị nạn “cu Meo con” quấn qua quấn quýt bên mẹ hết chải chuốt vuốt ve lại lấy cái mũi khịt khịt vào miệng mẹ tuồng như nó muốn hà hơi tiếp “nguồn sinh lực” để mong mẹ chóng bình phục!.


Tấm ảnh chụp khi Meo thoát nạn cho thấy “người” mừng nhất là “cu Meo con” và thi sĩ họ Đất!.


Ôi tình mẹ và con Meo thật “vĩ đại”!./.


 


Thiệt và dối 


MMột giáo sư tự nói rõ mọi việc làm không đúng của mình từ khi cắp vở; cắp cặp đi học cho đến bây giờ ở tuổi “Xưa nay hiếm”.


Tin về giáo sư tất cả các báo, mạng, hảng thông tấn đều đưa tin, nhiều báo còn viết bài tường thuật cặn kẽ không thiếu một chi tiết nào... Ví như mấy tuổi cụ đi học, đi học giỏi hay dở, thi mấy kỳ môn nào tự làm bài môn nào coppy, môn nào tự làm nhờ “phao”... Học hàm tiến sĩ do ai làm, học vị giáo sư do đâu mà có...


Thế mà không ai tin họ kháo nhau: “Lại là tự tạo scandan để thêm nổi tiếng!”. Khó thật thời buổi khó thật!. 


Tờ báo “Tiếng Chuông Rè” tờ không ai đọc hết nhưng sống được nhờ quý nhân tài trợ cử phóng viên đặc biệt (đặc biệt vì phóng viên là Tổng biên tập) đến tư dinh giáo sư phỏng vấn và đăng trên trang nhất với tít bài: “Sự thật về những lời nói dối của giáo sư...”.


Đột nhiên tờ báo nổi danh như cồn.


Sau đây là toàn văn bài báo: “Xin bạn đọc xem bài trong số báo in ngày mai”.


 


Xe gạo và xe sách 


Đất nước sau chiến tranh kéo dài, kinh tế kiệt quệ.


Thành phố mà không có gì thì nông thôn hơn chi... Hai năm dài đằng đẵng chịu khó chịu khổ chờ quyết sách của vua ban.


Rất may triều đình và các quan đại thần một lòng nghiên cứu tìm tòi kế sách in vào một quyển gọi là “Cẩm nang làm giàu” xong mở một đợt khuyến dụ quan dân cả nước nên nhận sách vua viết về đọc mà theo đó mần ăn để “Dân giàu nước mạnh”.


Đến giờ G nhà vua cho chở xe gạo và một xe sách đến tất cả khắp nơi trong nước và truyền chỉ lệnh của vua: “Dân chúng ai muốn no ngay thì nhận bao gạo một tạ, ai muốn mai kia không những no mà còn giàu có khá giả thì nhận sách “Cẩm nang làm giàu”.


Cả nước quan dân đều nhận sách, toàn bộ số lượng gạo chở đi được chở về nhập kho.


Mới ba mươi năm sau đất nước trở nên “con rồng - con hổ” trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật...


Khâm phục thay! Khâm phục thay!./.


Chữ to! 


Nu Na liến từ mới lên ba lên bốn kia. Giờ đã là cô bé học lớp mẫu giáo lớn rồi nên càng liến lắm. Nhìn khuôn mặt bầu bỉnh và sáng sủa ai cũngthích bẹo. 


Ở lớp Nu Na làm trưởng lớp mà chưa bao giờ cô bé tỏ vẻ ta là trưởng lớp cả. Cái gì cũng nói cũng thưa nhẹ nhàng với cô và cũng rất nhẹ nhàng với các bạn. 


Một hôm Nu Na không học thuộc lời bài hát mới. Không thuộc không phải lười biếng mà do câu nói của mẹ hồi sáng sớm khi chở cô bé đến trường. “Con phải học nghe nếu không các bạn giành hết chữ to!”. 


Cả buổi sáng Nu Na suy nghĩ miết, mình có giành cái gì của bạn đâu?. 


Con gấu đẹp nhất để cu Biu cõng. Chiếc xe cần cẩu mình thích lắm mà bé Hà Hà nũng nịu đòi mình cũng nhường... Mình... mình... Thế mà sao các bạn xấu thế!. 


Từ đó ở lớp học Nu Na cái gì cũng giành phần mình. Dần dà chẳng còn bạn nào muốn chơi chung. 


Biết sự việc, mẹ khóc. 


Nu Na dỗ mẹ: “Mẹ đừng lo nữa các bạn giờ chỉ có chữ nhỏ thôi. Chữ to là của con hết mà!”./. 


Thế mà... 


Hai đứa trẻ lên năm cùng chơi với nhau. 


Đứa con gái nói: 


“Bữa sau mình thích làm bà ngoại hơn!”. 


Đứa con trai tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi: “Tại sao?”. 


Đứa con gái không một chút suy nghĩ trả lời ngay: “Vì bà ngoại là mẹ của con gái!”. Nói xong đứa con gái giải thích tiếp: “Như bà nội mình đó, bà thương mẹ mình hơn mẹ cu Ít”. 


Đứa con trai thắc mắc: “Tại sao?”. Chẳng cần suy nghĩ gì lâu đứa con gái nói ngay: “Bởi với cu Ít kêu bà ngoại mình bằng bà nội!!!”. 


Bà ngoại - bà nội hai bà là một sao lại thương con gái hơn con dâu?. 


Câu hỏi tưởng dễ trả lời lại hóa ra quá khó. 


Nếu không khó tại sao cùng làm “Bà ngoại và bà nội” lại không dành tình thương yêu như nhau cho cả “con gái” và “con dâu” mình. 


Xưa nay ai cũng biết “Con gái mình là dâu người ta và ngược lại!.”. 


Thế mà... ./. 


Nải chuối 


Thiệt tình bà Hai thương cháu lắm!. Không thương mà mỗi lần ba hoặc má của cu Sun la rầy cu cậu khi làm điều trái quấy hay làm nũng thì bà thường bênh: “Mấy đứa hồi nhỏ cũng vậy thôi!. Cháu lại đây với bà!.”. 


Hôm rằm vừa rồi bà rấm buồng chuối cau thật đẹp đi lễ chùa. Cu Sun nấn ná mãi đòi bà nội cho ăn chuối. Bà cắt buồng chuối ra từng nải cẩn thận sắp xếp vô giỏ nhựa xong đưa cho cu Sun một nải chót bảo cu cậu vừa ăn vừa chơi ngó nhà mẹ đi chợ sớm về giờ.


Cu Sun ngắm đi ngắm lại nải chuối chót rồi nói:


“Con ưng nải trong giỏ kia kia...”.


Bà mần thinh đứng dậy xách giỏ chuối đi...


Tới chùa sư Doãn Thính thấy bà Hai khệ nệ mang xách giỏ chuối nặng nề như vậy nói: “Phật tử cao tuổi rồi không nên cúng kiếng nhiều lễ vật như thế!”.


Rồi hỏi: “Cụ bà để ở nhà cho cháu được bao nhiêu nải?. Có nải nào tốt không?”.


Bà Hai lúng ta lúng túng.


Sư Doãn Thính: “Kính Phật và thương con thương cháu là hai việc cần làm song song. Nếu Phật tử nặng bên nhẹ bên là điều cần sửa ngay. Đi tới chùa cốt để tu thân sửa tánh chứ không phải để cầu để xin điều gì nơi Phật và nơi chùa đâu!”.


Nghe lời sư giảng giải, bà Hai hiểu ra và càng nghĩ càng thương cu Sun./.


Từ rày đỡ lo... 


Nghe thiên hạ bàn ra tán vào như vậy.


Mà chắc đúng như vậy bởi hồi bà Chum còn sống, vợ chồng Hai Nỷ và mấy đứa cháu nội cũng chẳng thiết tha tới hoàn cảnh sống của bà... Trên tám mươi tuổi rồi mà cái gì cũng riêng với tư. 


Nơi bà Chum trú tránh nắng mưa là túp lều xây tạm ba bức tường gạch thâm thấp lợp tôn nằm sát vách ngôi nhà bề thế của vợ chồng con trai độc tôn Hai Nỷ. Như hộ nông dân thực thụ bà có riêng đám ruộng hơn một sào, việc gieo cấy thu hoạch cũng tự bà làm tất dù sức mòn lực kiệt, năm khi mười hoạ gặp bữa ốm nằm liệt giường con cháu mới trợ giúp, còn khoảng ăn uống hằng ngày thì rõ rồi bà phải tự nấu mới có ăn...


Khổ nhất lúc trái gió trở trời... trông bà Chum càng tội nghiệp... người ốm yếu nói quá lỡ gặp gió cả có thể bay theo gió như chơi...


Nhiều người thấy vậy nhỏ to góp ý. Nhưng nhằm nhò gì, có lần Hai Nỷ trả lời thẳng đuột “Bộ tôi sướng lắm chắc!” nên lâu rồi thành quen kệ bà Chum sống ra sao thì ra...


Đến lúc bà Chum nhắm mắt xuôi tay, vợ chồng Hai Nỷ lo tang chay rầm rộ. Trại rạp dựng lên trang hoàng chu đáo... Tiếng kinh câu kệ và nhạc đám ma ò... e... í, e ra rả cả ba ngày trên loa. 


Ai nấy đến thăm ngỏ lời chia buồn cũng giật thót mình khi nghe vợ chồng Hai Nỷ gục gục đầu tỏ vẻ chân thành đội ơn và nói lí nhí: “Từ rày đỡ lo...”


Bà Chum đi... từ rày đỡ lo... thật!./.


23. Tối lửa tắt đèn... 


"Bán bà con xa mua láng giềng gần”. 


Câu thành ngữ quen thuộc ai cũng biết. Đó là lúc bình thường. 


Còn khi con gà nhà bên tự nhiên chui qua hàng rào gai tre chạy sang nhà Y bui gần hết nửa rò cải cay đang lên mơn mởn là chuyện khác!. 


Y đi làm ruộng về thấy, tiếc của giận run người. 


Tối lại Y làm thinh mua thuốc bả độc trộn một nửa lon gạo đem rải qua vườn nhà bên. 


Trưa hôm sau đi làm về anh nhà bên thấy đàn gà choai có lớn có chết toi... cũng tiếc đứt từng đoạn ruột. Bầy gà trên mười con nhà bên định bụng giáp tết bán lấy tiền mua mấy bộ đồ mới cho hai đứa con tuổi lên chín lên mười mặc ăn tết. 


Chị vợ nổi tam bành la làng la xóm rân trời đất!... Anh chồng can “Thôi coi như gà dịch bệnh...”.


Hai mươi tám Tết Y nấu bánh tét. Vợ chồng canh lửa củi quá nửa đêm mệt quá ngủ quên. Lửa bò ra liếm phên tre bắc sang đống cây củi bắp cháy bùng lên lửa ngọn thiêu rụi nhà bếp.


Bà con hàng xóm tất cả xúm nhau cứu hoả!. 


Người ta thấy vợ chồng anh nhà bên là những người tích cực nhất trong việc chữa cháy nhà anh Y hôm ấy. 


Và suýt xíu nửa anh nhà bên bị thương do cây cột nhà dưới ngả đổ...


Cứu được căn nhà trên của Y không bị cháy ai nấy cũng vui mừng. Nồi bánh tét và mấy chum lúa cái cháy ra tro cái cháy sém... khét lẹt./.


24. Phóng sanh


     Lạ! Con chim sẻ gật gù trong lồng.

     Nó lại được thả ra, thả ra là nói theo chữ ta còn chữ nôm chữ của người làm thiện lành là phóng... sanh.

"Không biết sau 4 lượt bắt rồi thả này mình có thoát nạn bẫy chim không?"

    Con chim sẻ đang ở trong lồng nghĩ nghĩ...

Mô Phật!./.


25. Mẹ ơi!


Mẹ vĩ đại Thu Bồn đôn hậu mà giờ tác quái!.

Mẹ không còn thiên lương?

Không thể và không bao giờ có điều ấy.

- Mẹ sinh nở và dưỡng dục con chứ!

- Dạ con xin mẹ thứ lỗi!

- Không lỗi phải. Điều mẹ muốn là các con hãy đùm bọc nhau như ngày nào...

- Dạ!.

Sau giấc mơ ngủ là nghe tin một bà mẹ trong khi đi sinh đã lâm nạn. Cả hai mẹ con không thoát khỏi lưỡi hái tử thần trong dòng nước bạc!.

Mẹ ơi!./.

H.V

12/10/20


26. TỪ TÂM 

 1. 

Tới chừ làng Cẩm Đồng còn nhớ chuyện: 

Hồi năm 1975 khi chiến tranh vừa kết thúc ai ai cũng thi nhau khai hoang vỡ hoá để có đất sản xuất. Cả biền bãi mé sông Thu Bồn ở đây mới có lưng nửa tháng đã sạch cỏ tranh; lau bói. Thế mà trong thửa đất hơn hai sào của ông Liêu lại có một chòm lau bói đứng chơ vơ...


 Ông An cuốc đất kế bên hỏi:

 “Chứ ông để mần chi?”.  


Vuốt những giọt mồ hôi trên tráng xong ông Liêu nói: 

 “Bên trong nớ có một tổ chim!”.

  

 Một thời gian sau từ nơi chòm lau bói có ba chú chim non chập chững tập chuyền!. 


 2. 

Xa quê Gò Nổi vô Sài Gòn từ những năm 60 nay ở tuổi “cổ lai hy” ông Trí vẫn không quên các chú chim chóc một thời trai trẻ từng thấy từng biết và ham thích... 

 Bởi vậy khi anh con trai của ông xây căn nhà mới ông đề nghị: 

“Con cho ba tầng thượng để nuôi chim...”.  


Sau hơn hai năm ông Trí mua hàng tạ thóc, đậu, mè, ngày nào cũng mang lên sân thượng tỉ mẩn rải... đến nay có hàng trăm... con chim đủ các loại không rõ từ đâu thường xuyên bay đến vui đùa với ông Trí như bạn thân trên sân thượng!. 

Quả là từ tâm./.


 HÒA VĂN

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2023

LÊ THÍ: ĐÔNG VỀ... NHỚ MẮM THÍNH



     Quê tôi ở phía “nguồn”, xa biển cả mấy chục cây số. Ngày trước đường giao thông, phương tiện đi lại hạn chế. Ngày thường để có được con cá tươi, cá hấp của biển còn khó huống gì ngày đông mưa gió sụt sùi. Vì thế các móm “mắm” như mắm cái, mắm dưa, mắm thính… đã trở thành thực phẩm “chủ lực”, “chính vị”. 

     Xa quê đã mấy chục năm, ngày nay nguồn thực phẩm dồi dào, thịt thà, cá tôm ê hề, nhưng mỗi lần đông về, trời trở lạnh lại nhớ món mắm thính ngày xưa của mẹ!

    Mắm thính là món cá được muối với bột thính. Thính là loại bột gạo hoặc bắp (chủ yếu là bắp) được rang chín cho thơm và giả vụn. Công thức nghe thật đơn giản nhưng muốn có món mắm ngon luôn cần có tay nghề lẫn bí quyết!.


Làm mắm thính

        Nguyên liệu để làm mắm thính là các loại cá gần bờ và chủ yếu là các loại rẻ tiền như cá nục, cá de, cá trích, cá chuồn…Nhiều người vẫn bảo có món mắm thính cá thu, cá ngừ …rất ngon nhưng thực tình quê tôi là vùng “chó ăn đá, gà ăn muối”, cả tuổi thơ của tôi chưa bao giờ được thấy lát cá thu, nói gì đến việc đem loại cá cao cấp này… làm mắm!

    Thường vào khoảng tháng 6, 7 là vụ cá nam, cá nhiều và rẻ, lại gần đến mùa mưa lụt, mẹ tôi thường mua cá về để làm mắm. Trước hết bà làm sạch ruột cá, lấy mang, chặt bớt đuôi, vây cho gọn. Dùng nước muối nấu sôi để nguội rửa sơ qua cá cho sạch rồi để trên rổ cho thật ráo. Xong sắp cá thành từng lớp trong vại sành, cứ một lớp cá lại rắt một lớp muối. Vừa làm bà vừa dạy cho chị tôi, cứ 3 cá, một muối. Ít muối quá cá sẽ mềm, nhiều muối cá sẽ quá mặn. Khi vại đã đầy bà cho một chiếc vĩ bằng tre đậy lên trên và chèm cho thật chặt để muối dễ thấm đều vào cá, xong đậy lại thật kín.

        Khoảng mười ngày sau, cá đã thấm muối, chín và cứng, bắt đầu dậy mùi. Bà cho vớt cá ra khỏi lu, lấy tay ép nhẹ từng con cá để gọi là cho bớt mặn và cho con cá được cứng.

     Quê tôi thính được làm bằng hạt bắp. Mẹ tôi vẫn bảo nếu có gạo hoặc nếp càng tốt nhưng cao cấp qúa. Bắp được rang với lửa củi, lửa không được cháy lớn để cho bắp được chín đều và không bị nổ. Khi bắp chín vàng và có mùi thơm là được. Để bắp nguội đem giã nát nhưng không được mịn quá. 

     Công đoạn cuối cùng là trộn cá với bột thính. Bột thính sẽ bám thành lớp dày quanh con cá. Sau đó đem cá thính xếp thành lớp vào trong lu hoặc hủ chèn thật chặt, lấy lá chuối hơ lửa và mo cau bịt kín miệng hủ rồi đem dang nắng vài tháng là đã có mắm thính để ăn. Trong mấy lu mắm thính mẹ tôi luôn đánh dấu một lu đặc biệt, lu nầy thể hiện bí quyết làm mắm của bà. Đó là việc đổ thêm trong lu một lượng nước mắm có pha nước đường bát đã “thắng” vừa độ tới. Bà thường bảo, loại đặc biệt ni mà ăn vào ngày mưa lũ, giá rét thì … đau gạo, đau cơm lắm! Thế mới biết ngày đó quê tôi nghèo đến mức nào! Thêm có tý nước mắm tí đường là đã trở thành “đặc biệt”, “cao cấp”!.


Ăn mắm thính

Cách ăn mắm thính cũng đơn giản như cách làm nhưng lại món cực kì khoái khẩu.

Ngày đông tháng giá, “bạn biển” (chữ dùng của mẹ tôi) không lên được, hoặc không đi chợ được thì mắm thính trở nên … đắc dụng. Chỉ việc gắp vài con mắm bỏ vào tô đem chưng vào nồi cơm đang cạn. Khi cơm chín thì mắm cũng chín và có thể ăn ngay. Cầu kì hơn (đối với quê nghèo) trước khi chưng vào nồi cơm bỏ thêm vào tô mắm ít tiêu, ớt bột và vị tinh (mì chính), sang hơn thì thêm ít tép mở.

    Mắm thính cũng có thể đem kho, đem nướng lá chuối trên than hồng. Mắm thính kho sẽ làm cho mắm béo (nhờ dầu phụng) và ngọt hơn nhờ đường và vị tinh. Lấy lá chuối gói con mắm lại rồi nướng trên lửa than sẽ có món mắm thính thơm và giòn hơn. Mắm thính quê tôi còn được ăn với rau luộc (lang, muống, cải…).

      Quê nghèo của tôi, món mắm thính chỉ đến mức đó! Thế nhưng những ngày mưa gió, rét mướt bên bếp lửa, bới chén cơm nóng hổi từ trong nồi còn đang vần tro nóng, gắp miếng mắm thính trộn đều, và vào miệng chưa kịp nhai đã muốn nuốt… vì ngon quá, cái ngon mà ngôn ngữ không diễn tả được và sau này khi lớn lên có dip được ăn  nhiều món ngon vật lạ vẫn không tìm được lại cảm giác thăng hoa đó!

       Sau này ra Huế học tôi mới được thưởng  thức món mắm thính cao cấp hơn của dân “quý tộc” ở … kinh đô. Người ta đem mắm thính kho với thịt ba rọi thêm chút mắm ruốc và các loại gia vị “cầu kì” của Huế. Có khi người ta chế biến món mắm thính hấp trứng . Mắm thính lóc hết thịt, bỏ xương, sau đó băm nhuyễn rồi trộn với vài cái trứng vịt đánh đều, thêm ít thịt heo nạc băm nhỏ, dầu và gia vị, sau đó đem hấp chừng 15 phút cho chín. Những món này thường ăn với rau sống gồm khế, chuối chát (có khi thay bằng trái vả), rau thơm. .. Nhưng hình như đối với tôi nó vẫn không có được cái “mặn mà” của mắm thính quê nhà!

                                                                ***

           Biết em ưa móm mắm thính nên mỗi dịp tôi từ Sài Gòn về thăm quê vào mùa đông, lần nào chị tôi ở quê cũng chuẩn bị sẵn mấy đĩa mắm thính để chiêu đãi. Và mỗi lần như vậy chị đều bảo với các con: món đặc biệt dành cho cậu! Nhìn đĩa mắm thính, nhìn dáng chị gầy gò, quê mùa đang tất bật, tôi lại thương chị, nhớ mẹ, nhớ một thời tuổi thơ gian khó, nước mắt cứ… chực trào!.


Lê Thí

Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2023

Bùi Giáng: Kỷ niệm 25 năm ngày mất




Lên mù sương xuống mù sương

Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu

Tuổi thơ em có buồn nhiều

Hãy xin cứ để bóng chiều bay qua

Biển dâu sực tỉnh giang hà

Còn sơ nguyên mộng sau tà áo bay.

Bùi Giáng

-----

Ảnh chân dung, thủ bút Bùi Giáng

Kha Tiệm Ly: VĂN TẾ ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU


Giải nhất toàn quốc cuộc thi viết VĂN TẾ ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU, nhân kỷ niệm 200 ngày mất của ông  (2021)


Tác giả KHA TIỆM LY 



Than ôi!


1. Gió dìu mây, mây phủ màu tang,

Sương thức (chạm) lá, lá rơi nước mắt.


2. Khóc người tuấn kiệt, núi thẳm ngậm ngùi,

Chạnh khúc đoạn trường, dòng sâu man mác!


Nhớ văn hào xưa,


3. Vốn nòi thế phiệt, lời lời hoa thêu gấm dệt, hàng hàng ý ngọc lời châu,

Nhằm cửa danh gia, ngày ngày ngọc dát châu đeo, bữa bữa đũa ngà chén bạc.


4. Hồng Lĩnh đỉnh cao vòi vọi, muôn khí thiêng hun đúc bậc anh tài,

Lam Giang bờ rộng thênh thênh, vạn nguồn mạch sản sinh người khoáng dật.


5. Thương chúng sinh thập loại, lấy lòng nhân thắp sáng đuốc từ bi,

Đọc thiên quyền vạn kinh, nhờ bút ngọc vinh danh người lỗi lạc.

.

6. Cao bằng hiền hữu, luôn chọn bậc trọng nghĩa khinh tài, đâu hiềm nhà cao cửa rộng hay điếm cỏ cầu sương,

Tri kỉ hồng nhan, chỉ lựa người nhả ngọc phun châu, chẳng màng cổng kín tường cao hay lầu ca viện hát.


7. Tài năng đó khó khăn chi danh đề bảng hổ, vinh hiển tổ tông?

Nhân cách ấy trở ngại gì tế thế an bang, chấn hưng xã tắc?


Ngờ đâu,


8. Thời li loạn hốt bạch vân thương cẩu, còn đâu hồi áo gấm hài thêu,

Lửa chiến chinh biến thương hải tang điền, nào ngờ lúc nhà tan cửa nát!


9. Buổi giao thời chia đường hai lối, về phương nào khi thay chúa đổi tôi,

Tiếng đao binh tạo khúc đoạn trường, đàn làm sao khi lạc cung sai bậc?


10. Kinh luân một bụng, đâu anh hùng, đâu tri kỉ, đường trần ai ngoảnh lại bơ vơ.

Kinh điển năm xe, nào trung can, nào khí tiết, đạo thần tử ngẫm càng chua chát!


11. Hùng tâm tráng khí, mà bóng quần hào sau trước vắng tênh,

Viễn trí cao tài, nhưng đường tiến thoái dọc ngang bế tắc!


12. Mộng phù Lê tàn phai lần lữa; làm được gì khi bóng lẻ thân cô?

Vọng cố hương đau xót não nùng; thương biết mấy ngày canh rau cơm lạt!


13. Dằn câu khí tiết, chốn sân chầu che mặt uốn lưng tôm,

Ngậm tiếng thị phi, nơi cửa khuyết nén lòng khum gối hạc!


14. Đã trót đánh rơi thanh kiếm, vinh dự chi lơ láo phận hàng thần.

Thôi đành nương náu bệ rồng, thẹn thùng lắm lất lây hồi đầu bạc!


15. Qua quan ải, giận cuồng ngôn tên ác tướng Phục Ba, (1)

Nhớ Hát Giang, trọng khí tiết vị nữ vương Trưng Trắc.


16. Dù Đồng Trụ rêu đã xanh rì ,

Nhưng Đằng Giang cọc còn nhọn hoắt! (2)


17. Đến viễn phương thấy đời đau khổ, kẻ tù đày, người đói rách, nhớ quê xưa tấc dạ bồi hồi.

Viếng danh nhân chạnh nỗi đoạn trường, nào bi phẫn, nào oan khiên cảm thân phận cõi lòng u uất.


18. Bởi bạo quyền giấu nanh che vuốt, nhai xương người ngọt tợ cao lương. (3)

Nên lê dân bóp bụng thắt hầu, ăn rau dại thường hơn cơm vắt!


19. Đầu Ban Siêu (4) phơ phơ màu tóc, nợ sơn hà tấc đất ngọn rau,

Mây Hoành Sơn bàng bạc đầu non, xót phần số hồng nam nhạn bắc!


20. Đường công danh phủ bao lớp trần ai,

Màu danh lợi nhuộm mấy lần bạch phát!


21. Mãi trông đàn nhạn vỗ cánh nhịp nhàng hướng đỉnh Hồng Sơn,

Mà mặc vó ngựa gõ nhịp u buồn về miền Kinh Bắc!


22. Mỗi bước li hương, mỗi bước não nùng,

Từng hồi nhớ quê, từng hồi quặn thắt!


Mới hay,


23. Li ngự tửu không ngon ngọt lại đắng cay,

Tình đồng liêu chẳng mặn mòi mà nhợt nhạt!


24. Chốn quan trường lỡ thầy lỡ tớ, ích lợi gì chữ tốt văn hay?

Nơi triều trung gượng nói gượng cười, sượng sùng lắm mũ vàng đai bạc!


25. Chán khòm lưng quỳ nơi chín bệ, thùng thình vướng áo rộng hài cao,

Muốn phanh ngực nằm dưới bách tùng, thư thả ngắm trăng thanh gió mát.


26. Sờ tóc trắng thẹn cùng Hồng Lĩnh, thẹn cùng tảng đá, chòm cây,

Nhìn mây chiều nhớ đến Lam Giang, nhớ đến cội tùng, dòng thác


27. Thanh Hiên Thi Tập, gởi gắm phận mình lỡ thời thất thế, đá nát vàng phai,

Bắc Hành Tạp Lục, xót thương bao người ách nước tai trời, mưa vùi gió dập.


Dù cho,


28. Sao văn chương xé toạc lưng trời,

Lòng nhân ái trải dày mặt đất.


29. Viết văn tế độ người thảm tử, xót thập loại chúng sinh sống đọa chết đày,

Mượn tân thanh phổ khúc đoạn trường, thương bao phận hồng nhan hoa trôi bèo dạt!


30. Cảnh tang thương triền miên tám  hướng, nơi ta bà bao người lạc chợ, trôi sông,

Khói binh đao mờ mịt chín tầng, xương vô định bấy kẻ chôn nghiêng, liệm sấp!


31. Sổ đoạn trường hàng hàng lớp lớp, nào giai nhân, nào tài tử, lượn sóng đời dập cuồn cuộn oan khiên,

Đường định mệnh lối lối thênh thênh, nào nghĩa khí, nào trung can, dây oan nghiệt kết trùng trùng u uất!


Ôi!


32. Mang chữ “mệnh” thì nơi đâu không phải bến Tiền Đường?

Chẳng chữ “duyên” làm sao dễ náu nương Quan Âm các?


33. Phận bạc luôn đọa đày bậc khoát luận cao đàm, tú khẩu cẩm tâm,

Con tạo khéo ghét ghen kẻ ngọc diện hồng nhan, thiên hương quốc sắc!


34. Dù bể tang thương trùng trùng gió bão, đầu bút thần vẫn tỏa ánh hào quang,

Ngặt lửa sa trường ngun ngút núi sông, câu khí tiết làm đau lòng ngọc phác!


35. Đâu má hồng mười lăm năm trường đoạn, mà bên tình, bên hiếu luôn sắt son cùng sông núi thênh thênh?

Đâu danh nhân chịu nửa kiếp phong trần, mà chữ tiết, chữ nhân vẫn mênh mang như trăng sao vằng vặc?

 

Đáng xứng danh:


36. Vô tiền nghệ sĩ aó bố hài gai,

Khoáng hậu thi hào lòng son dạ sắt

.

37. Không phải nguyệt mà sáng trong hơn nguyệt; trong rừng bảo điển vĩ nhân, cụ Tiên Điền xứng danh “vạn đại thi hào” .

Chẳng là hoa lại thơm ngát hơn hoa; trong vườn phong tình cổ lục, truyện Thúy Kiều đáng gọi “kỳ thư tuyệt tác”.


38. Cạnh muôn hoa, vua mẫu đơn chẳng muốn tỏa hương, (5)

Giữa bầy chim, chúa phượng hoàng đâu cần khoe sắc! (6)


39. Đẹp làm sao! Nhân dân ngưỡng mộ ngài với biết bao lời châu ngọc thiết tha,

Xứng làm sao! Thế giới tôn vinh ngài cùng trăm linh bảy danh nhân lỗi lạc! (7)


Ôi! Hỡi ôi!


40. Đang cơn mây tạnh ngờ đâu gió thổi ngậm ngùi,

Trong lúc trời quang bỗng dưng mưa bay lất phất!


41. Thu vừa chớm mà vùng đất Tiên Điền (8) mây nhuộm âm u,

Chướng chưa về mà dặm đường Nghi Xuân (8) lá rơi lác đác!


42. Đao định mệnh luôn cướp đường sinh tử, dù thân chẳng còn mà tiếng để danh lưu,

Trận phong lôi sao át sấm tài danh, nên đèn vẫn tỏ dù mưa lùa gió tạt.


43. Lẽ vô thường lại đùa cợt nhân sinh,

Đò li biệt luôn đưa sầu vạn vật!


44. Ơn văn hào tợ trái đồi trái núi, chừng như nước lấp đại dương,

Lời hậu sinh như hạt bụi hạt sương, cầm bằng cát rơi sa mạc!


Hôm nay,


45. Chưa ba trăm năm, mà cả non sông đã đổ lệ vì người nghệ sĩ phong lưu,

Bởi khắp bốn cõi, cứ mỗi tấm lòng đều nghiêng mình trước một thi hào uyên bác.


46. Dù văn chương, dù son phấn, khi thác rồi hậu thế còn ghi,

Dù vô mệnh, dù hữu thần, lúc lìa đời người sau vẫn nhắc.(9)


47. Chén rượu quý kính dâng người tài đức, lượng thứ chúng hậu sinh ý thiển lời thô,

Nén nhang thơm tưởng nhớ bậc cao hiền, cung thỉnh đấng tiền bối lòng thành lễ bạc.


Thượng hưởng!.


KHA TIỆM LY


Chú thích:


(1) Sau khi đánh thắng Hai Bà Trưng. Mã Viện dựng trụ đồng ở biên giới với hàng chữ khắc trên đó: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (nếu trụ đồng mà bị gãy thì Giao Chỉ bị diệt vong)


(2)Trộm ý của hai câu:

“Đồng trụ chí kim đài dĩ lục,

Đằng giang tự cổ huyết do hồng”

(Trụ đồng đến nay rêu còn xanh biếc,

Nước sông Bạch Đằng từ xưa đến giờ vẫn còn đỏ au)


(3) Cao lương: Trong “cao lương mĩ vị”, chỉ thức ăn ngon. Nguyên câu trộm ý 2 câu trong bài Phản Chiêu Hồn của cụ Tiên Điền:

“Bất lộ trảo nha dữ giác độc,

Giảo tước nhân nhục cam như di!”

(Không để lộ ra nanh vuốt và sừng (có nọc) độc

Mà cắn xé thịt người ngọt như kẹo như đường)


(4) Ban Siêu: Vị tướng tài thời Đông Hán. Bình định Tây Vực hồi 40 tuổi, đến 71 tuổi mới trở về kinh đô Lạc Dương; lúc đó đầu ông đã bạc trắng .


(5) (6): Mẫu đơn là chúa loài hoa; Phụng hoàng là chúa loài chim (theo quan niệm xưa)


(7) Ngày 25/10/2013, tại kỳ họp lần thứ 37 của Đại Hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) họp ở Paris đã chính thức ban hành Nghị quyết số 37C/15 phê chuẩn Quyết định số 191EX/32 và 192EX/32, nhất trí vinh danh Đại thi hào Nguyễn Du cùng với 107 danh nhân văn hóa toàn thế giới. Theo đó, hoạt động tôn vinh được triển khai ở Việt Nam và tại các nước trong cộng đồng UNSESCO (niên độ 2014 - 2015).

(Nguồn: https://hanam.gov.vn/…/Danh-nhan-van-hoa-the-gioi--%C4%90ai…)


(8) Làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Tỉnh Hà Tĩnh là quê hương của cụ Nguyễn Du (mộ cụ nằm tại làng Tiên Điền)


(9) Trộm ý 2 câu trong bài “Độc Tiểu Thanh Kí”:

“Chi phấn hữu thần liên tử hậu,

Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.”

( Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết .

Văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở).


BÀI XEM NHIỀU